Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

GẶP GỠ CHÚA GIÊSU

GẶP GỠ CHÚA GIÊSU
1.
Nhân dịp Tết mới, tôi xin thân ái cầu chúc cho mọi người nhận được món quà, mà tôi cho là rất quí, đó là được gặp Chúa Cứu Thế, để cuộc sống của mình được nên tốt đẹp, như lời Người đã phán xưa: “Ta đến, để cho chiên được sống, và sống dồi dào” (Ga 10,10).
2. Sở dĩ, tôi chúc như vậy, bởi vì tôi tin: Ai gặp được Chúa Giêsu, kẻ ấy sẽ nhờ Người mà có được cuộc sống tốt.
Không những tôi tin như thế, mà thực sự tôi đã trải qua một cuộc đời được kinh nghiệm như thế. Ở đây, tôi xin phép được chia sẻ đôi chút về những kinh nghiệm đó.
Trên suốt cuộc đời dài, nhiều lần tôi đã gặp được Chúa Giêsu một cách rất rõ, gây ấn tượng mạnh. Có thể tóm tắt những gặp gỡ đó vào hai loại:
3.
Một là được gặp Chúa trong cảnh huy hoàng, siêu thoát, như ba môn đệ đã gặp trên ngọn núi cao, ở đó Chúa biến hình. Ba môn đệ đã rất vui. (x. Mc 9,2-12)
4.
Hai là được gặp Chúa trong cảnh đớn đau như ba môn đệ đã thấy, trong vườn Cây Dầu, khi Người chiến đấu trước cái chết khổ nhục. Tôi cũng như ba môn đệ kể trên đã rất sợ hãi, kinh hoàng. (x. Mc 14, 33-42)
Tôi nghĩ chính vì yêu thương thân mật, Chúa Giêsu mới cho tôi được nếm đôi chút những giờ phút đặc biệt nhất của cuộc đời Chúa. Nhờ đó, tôi được Chúa dạy tôi hãy sống thân mật với Người. Sống thân mật với Người là phải gắn bó với Người một cách kiên trì trong mọi hoàn cảnh, dù sáng sủa, dù tối tăm, mà tôi phải trải qua.
5.
Tôi đã được gặp Chúa Giêsu như thế trong những dịp nào? Thưa thường xuyên tôi gặp Người bằng đức tin. Bằng đức tin, tôi gặp Chúa. Sự gặp gỡ này được thực hiện do ơn Phép Rửa tội. Ngoài ra, tôi còn được gặp Chúa, như một người được Chúa gọi hãy làm chứng cách riêng cho sự sống thân mật với Chúa.
Nhưng gặp gỡ thân mật với Chúa Giêsu mà tôi cảm nhận được thường không kéo dài lâu. Nhưng ảnh hưởng của nó thường nuôi sống linh hồn tôi một cách sâu xa lâu dài.
6.
Nơi đầu tiên tôi được gặp Chúa một cách thân mật, là nội tâm thinh lặng. Không phải lúc nào tôi cũng nếm được sự ngọt ngào do ở bên Chúa. Bởi vì rất nhiều khi, tôi cảm thấy nguội lạnh, tối tăm. Nếu có lúc, tôi nói được như vua Đavít xưa: “Tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan, thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn” (Tv 16,9), thì lúc đó, chính là khi tôi sống nội tâm thinh lặng, trút bỏ những bận tâm của nếp sống hoạt động ồn ào, hướng ngoại, để dành thời giờ cho Chúa. Trong nội tâm thinh lặng, tôi cầu nguyện, đọc Lời Chúa.
Được gặp Chúa lúc đó có thể chỉ như một tia sáng lạ thường, nhưng tôi cảm thấy rất rõ sự hiện diện của Chúa thực là dịu dàng, đem lại cho tôi hạnh phúc và một sức sống lạ lùng khôn tả.
7.
Nơi thứ hai tôi gặp Chúa một cách thân mật, là lúc tôi xưng tội và trở về với Chúa.
Tôi xưng tội hàng tháng, nhiều khi hàng tuần. Mỗi lần xưng tội là mỗi lần tôi nhìn nhận mình tội lỗi yếu hèn, xin ơn tha thứ của Chúa, qua các vị của Hội Thánh được Chúa trao quyền. Bao giờ cũng vậy, lúc đó, tôi được gặp Chúa một cách rất thân mật, rất riêng tư. Người là Đấng cứu thế vô cùng nhân hậu của tôi.
8.
Nơi thứ ba tôi thường gặp được Chúa là việc tôi phục vụ kẻ khốn khó nghèo hèn.
Tôi phục vụ họ bằng nhiều cách thích hợp với khả năng nhỏ bé của tôi. Thí dụ đã từ lâu tôi viết bài chia sẻ. Khi làm việc đó, tôi không dám nghĩ là tôi phục vụ những người đạo đức, những người đầy đủ, nhưng tôi nghĩ tới những người túng nghèo, khổ đau về phần linh hồn. Tôi tự nghĩ rằng tôi cần phải có chút can đảm để đi ra khỏi cái thế giới của giáo sĩ thường có nhiều tiện nghi, để dìm mình vào những vấn đề nóng bỏng của người nghèo khổ hôm nay. Tôi cần khiêm tốn và cậy trông, mở rộng đức tin ra để cho mọi thứ người nghèo khổ xung quanh tôi có thể nhận ra cái giá mà Chúa Giêsu đã vui chịu, để cứu họ, đem họ tới hạnh phúc thật sự.
Khi làm như vậy, nhiều lần tôi đã gặp được Chúa Giêsu. Tôi như rụng rời, không phải thấy Chúa uy nghi quyền phép, nhưng thấy Chúa khiêm tốn, hạ mình, dấn thân vào con đường thánh giá một cách nhục nhã, chỉ vì yêu thương, muốn cứu chuộc loài người.
Từ đó, tôi hiểu rõ hơn những lời Chúa Giêsu phán trong ngày phán xét chung: “Mỗi lần con làm việc tốt cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là con làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,45).
9.
Nơi thứ bốn tôi thường gặp được Chúa là những gì xảy ra, đã đụng tới tôi một cách đặc biệt và riêng tư.
Thí dụ một cảnh trời đẹp, một người dễ thương, một tác phẩm hay, một cơn bệnh, một biến cố lịch sử. Tôi như cảm được lời Chúa xưa đang thực hiện nơi tôi: “Này đây, Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa ra, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3,20). Trong chốc lát, tôi đã nhận ra Chúa gõ cửa lòng tôi qua những gì xảy ra đó. Tôi đã mở cửa đón Chúa vào.
10.
Qua những lần gặp gỡ Chúa Giêsu, tôi xác tín đạo Công giáo của tôi là một mời gọi đi xa, vượt quá những gì chúng ta có thể tưởng tượng, rất hơn cuộc sống thế trần này. Tôi càng xác tín là con người đi tu, hiến thân cho Chúa, phải thuộc trọn về Chúa, để cùng với Chúa, đưa con người tới một sự sống thực, một sự sống dồi dào bình an và hạnh phúc đời đời.
Hôm nay, những ngày sắp Tết, tôi gói gọn những kinh nghiệm và niềm tin của tôi vào một lời chúc chân thành:
Gặp gỡ Chúa Giêsu
Tôi nghĩ là nhiều người đã gặp được Chúa Giêsu, người cách này, người cách khác. Chúng ta giúp nhau gặp gỡ Chúa Giêsu, đó cũng chính là hạnh phúc muốn được chia sẻ trong ngày đầu năm Ất Mùi này. Giúp nhau như vậy chính là yêu thương nhau, trân trọng nhau và tin vào nhau.

Chớ gì được như vậy, để mùa xuân Quê Hương dưới đất sẽ là phản ánh được phần nào mùa xuân Quê Hương trên trời.

ĐGM.GB. Bùi Tuần

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

MÙA CHAY CỦA TÔI

MÙA CHAY CỦA TÔI

1.
Với những kinh nghiệm của đời mình, tôi thường sống Mùa Chay với tinh thần sám hối và tin vào Chúa, một cách sống động hơn, nhờ ơn Chúa Thánh Thần.
Cụ thể là tôi sống với bốn xác tín sau đây:
2.
Tôi xác tín mình là kẻ tội lỗi rất cần được ơn tha thứ.
Tôi thực sự là kẻ rất yếu đuối tội lỗi. Thánh Phaolô viết về chính mình thế này: “Tôi mang tính xác thịt, bí bán làm tôi cho tội lỗi. Thật vậy, tôi làm gì thì tôi cũng chẳng hiểu. Vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm” (Rm 7,14-15).
Lời thú tội trên đây của thánh Phaolô khích lệ tôi hãy nói lên sự thực về tôi, tôi cũng là như thế, và còn hơn thế rất nhiều.
Khi tôi thú nhận mình tội lỗi, tôi không quá nhấn mạnh đến sự hư đốn của tôi, nhưng tôi nhấn mạnh hơn đến sự tôi được Chúa tha thứ. Tôi thực sự đã cảm nhận những lời Chúa phán xưa về tình yêu Chúa dành cho kẻ tội lỗi, như: “Ta không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,13). “Con Người đến, để cứu cái gì đã hư mất” (Mt 18,11). “Anh em nghĩ sao? Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để 99 con kia trên núi, mà đi tìm một con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là 99 con không bị lạc. Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18,12-14).
3.
Tôi không thể hiểu được, làm sao tôi có thể sống, nếu không được tha thứ. Tôi càng không dám gánh trách nhiệm nào, nếu tôi không tin rằng Chúa sẽ tha thứ cho những yếu đuối tôi.
Tôi được ơn tha thứ. Nên tôi rao giảng về sự tha thứ. Tôi làm chứng đạo Chúa có đặc điểm là tha thứ.
4.
Tôi xác tín mình là kẻ có rất nhiều giới hạn trong mọi lãnh vực, rất cần khiêm tốn tìm hiểu, lắng nghe và cộng tác với nhiều người.
Kinh nghiệm cho tôi thấy: không gì hại cho tôi bằng sự tôi nghĩ mình phải làm đủ mọi sự, và có thể làm được mọi sự. Kinh nghiệm cũng cho tôi thấy là: Không gì dại khờ cho tôi bằng sự tôi cho rằng mình phải làm được điều gì đặc biệt, khác với các Giám mục, và linh mục tại Việt Nam hôm nay.
5.
Tôi vững tin rằng: Chúa chỉ đòi tôi một điều là: Hãy kết hợp mật thiết với Chúa, rồi ơn Chúa sẽ dẫn đưa tôi làm những gì Chúa muốn, theo khả năng bé nhỏ của tôi. “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa quả, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).
6.
Tôi xác tín mình được gọi tham dự vào thánh giá Chúa, để góp phần vào việc cứu các linh hồn.
Rất nhiều khi, tôi đã nghĩ rằng: Đau khổ tôi chịu là do tội lỗi của tôi, và là con đường giúp tôi nên thánh. Nhưng dần dần, tôi xác tín: Đau khổ là một ơn gọi Chúa dành cho tôi, để tôi được góp phần vào việc cứu các linh hồn.
7.
“Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người” (Mc 19,45). “Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,15).
8.
Càng ngày, những lời Chúa phán trên đây càng làm cho tôi xác tín về sự tôi chịu đau khổ là để đáp lại ơn gọi Chúa dành cho tôi. Đau khổ gắn liền với mục vụ, đau khổ là một cách cứu độ, đau khổ là để hiệp thông với thánh giá Chúa.
Đau khổ là một ơn gọi, là đau khổ ấy đến từ nhiều phía. Rất có thể đến từ phía cộng đoàn của tôi, do những chống đối, những xa cách, những hiểu lầm, những ghen tương, vv...
Tôi phải sẵn sàng đón nhận. Rất có thể đau khổ đến từ những chuyển biến bất ngờ đòi tôi phải từ bỏ chương trình có sẵn, để bắt đầu lại.
Rất có thể đau khổ đến từ phía những văn hoá mới có vẻ bình thường hoá những tội lỗi và căn cứ vào ý kiến số đông như thước đo đạo đức. Những trường hợp như thế, tôi sẽ rất cô đơn và đau khổ.
Rất có thể đau khổ của tôi lại là những đau khổ của người khác. Khổ cái khổ của đồng bào tôi. Đau cái đau của Hội Thánh tôi.
9.
Tôi xác tín là cuộc sống của tôi rất mong manh, tôi ra đi bất cứ lúc nào, tôi phải sẵn sàng ra trước mặt Chúa với niềm phó thác tuyệt đối vào lòng thương xót Chúa.
Thánh Têrêsa thành Lisieux nói về mình: “Tôi sẽ hiện diện trước Chúa với bàn tay không”. Ngài nhận mình chẳng là gì, chẳng đáng gì, chẳng có gì gọi là công phúc. Ngài chỉ là đứa con bé nhỏ, chỉ tin vào tình yêu Chúa mà thôi.
Tôi sẽ không nói được như thánh nữ. Nhưng tôi sẽ nói với Chúa: Con là kẻ tội lỗi, mang theo nhiều dấu ấn của tội lỗi. Nhưng con tin ở lòng thương xót Chúa. vì Chúa là Chúa của con.
10.

Với bốn xác tín trên đây, tôi sống mùa Chay năm nay một cách bình an. Tôi biết sống như thế chính là một sự hoán cải nội tâm, đòi tôi phải rất khiêm nhường vâng phục thánh ý Chúa. Sự vâng phục khiêm nhường đó nhiều khi vượt quá tính cách hợp lý theo cách suy nghĩ của thế gian. Nhưng Chúa Giêsu đã làm. Tôi cũng làm như Chúa Giêsu. Như thế, tôi mới góp phần vào việc cứu nhân loại. Nhân loại hiện nay đang rất cần được cứu. Chỉ Chúa mới cứu được mà thôi.
GM.GB. Bùi Tuần

Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

HẰNG NGÀY TÔI GẶP CHÚA GIÊSU

HẰNG NGÀY TÔI GẶP CHÚA GIÊSU

1.
Tôi đã về hưu. Nhưng tôi vẫn có bổn phận đối với Hội Thánh để lo cho các linh hồn.
Trong tôi, mọi khả năng càng ngày càng yếu đi. Chính vì vậy, càng ngày tôi càng cảm thấy mình cần phải gần gũi với Chúa Giêsu, xin Người ban cho tôi niềm vui và hy vọng, để có thể lo được chút gì cho các linh hồn, dù chỉ là một chút rất bé nhỏ.
2.
Mỗi buổi sáng, tôi thường hôn tượng Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá. Tôi  nói với Người: Này con đây. Chúa muốn con làm gì? Bao giờ cũng thế, tôi được nghe Chúa nhắc lại trong lòng tôi lời Chúa phán xưa: “Ta hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11.16.17.18).
3.
Cùng với lời đó, Chúa đốt lên trong lòng tôi niềm khao cứu các linh hồn bằng thánh giá tượng trưng cho tình yêu và hy sinh. Niềm khao khát đó được đốt lên rất mạnh trong thời gian tôi chịu bí tích Thánh Thể.
4.
Thế rồi, Chúa sai tôi đi. Tôi không đi được bằng chân, bởi vì tôi cũng như bị đóng đinh vào một chỗ, do bệnh tật già yếu. Nhưng tôi đi bằng tâm hồn, qua thời sự.
5.
Tâm hồn tôi đi gần, tới xa. Đâu đâu tôi cũng thấy những cảnh đau lòng. Nhiều cảnh rất đau lòng xảy ra trong đời sống vật chất, trong đời sống tinh thần, trong đời sống tâm linh.
Những cuộc sống như thế cần được cứu. Tôi nhận ra Chúa Giêsu đang cứu họ qua những người Chúa chọn.
6.
Chúa cho thấy đặc điểm của những người được Chúa chọn đang cộng tác với Chúa trong việc cứu các linh hồn tại Việt Nam hiện nay là:
- Họ khao khát cứu các linh hồn.
- Họ yêu thương và hy sinh.
7.
Về đặc điểm thứ nhất là khao khát cứu các linh hồn, thì tôi được một chút kinh nghiệm như sau:
Khi hôn Chúa Giêsu chịu đóng đinh, tôi được Chúa Giêsu chia sẻ cho sự khao khát, mà Người kêu lên trên thánh giá xưa: “Tôi khát” (Ga 19,28).
Người khát các linh hồn. Nỗi khao khát đó chính là một thương tích sâu sắc nhất trong trái tim Người. Trong chốc lát, tôi hiểu khao khát các linh hồn là “muốn cho mọi người được cứu độ và biết chân lý” (1 Tm 2,3). Muốn cứu độ, tôi xác tín là phải cứu con người khỏi mọi lầm than, đặc biệt là cứu khỏi tội, khỏi lửa hoả ngục, để họ được phúc thiên đàng đời đời.
Một khao khát như trên chỉ do Chúa chia sẻ cho từ trái tim của Người, chứ không do lý luận, thảo luận. Chúa chia sẻ cho những kẻ bé mọn. Tôi thấy những kẻ bé mọn được Chúa chia sẻ cho nỗi  khao khát của Chúa đang sống rải rác khắp nơi trong Hội Thánh Việt Nam hôm nay. Tôi học được rất nhiều ở họ.
8.
Về đặc điểm thứ hai là yêu thương và hy sinh, thì tôi cũng được một chút kinh nghiệm như sau:
Yêu thương và hy sinh mà Chúa Giêsu chia sẻ cho tôi, được tôi cảm nghiệm như là một sự tôi được Chúa thu hút về với tình yêu Chúa trong sự vâng phục thánh ý Chúa.
Thu hút đó là một sự hiện diện dịu dàng của Chúa tình yêu, là một việc làm chọn lựa của Chúa tình yêu. Tôi  nhận được sự Chúa thu hút, đó chính là yêu thương, mà tôi cảm nhận.
Yêu thương như vậy, đòi vâng phục thánh ý Chúa trong mọi nơi mọi lúc. Vâng phục ý Chúa sẽ phải từ bỏ ý riêng mình, và đó chính là hy sinh, một thứ hy sinh cũng đem lại niềm vui như yêu thương.
Tôi đang thấy đặc điểm yêu thương và hy sinh, như vừa tả, nơi nhiều người trong Hội Thánh Việt Nam hôm nay. Họ âm thầm. Họ có mặt trong mọi giới. Tôi học được rất nhiều điều nơi họ. Một điều rất quý, tôi học được nơi họ là sự tế nhị.
Sự tế nhị là kết quả của yêu thương và hy sinh.
9.
Mỗi tối, trước khi ngủ, tôi lại hôn tượng Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá. Tôi thưa với Người: “Lạy Chúa, này con đây, Chúa muốn con làm gì?”. Hầu như lần nào cũng vậy, Chúa Giêsu lại âu yếm nói với tôi: “Con hãy bắt đầu lại”.
Với lời đó Chúa dạy tôi một sự thực rất cần cho tôi, đó là tôi còn rất bất toàn, còn rất nhiều điều phải học. Với sự thực đó, tôi nhận ra điều này, đó là: Con đường tôi đi sẽ không luôn luôn suôn sẻ. Chính tôi cũng không luôn luôn an ổn. Tôi cần phải bám chặt vào Chúa. Sẽ có lúc, tôi sẽ như đi trong đêm, trên đầu là núi, dưới chân là vực thẳm, trước mắt là sông lớn. Sẽ chẳng còn nhìn thấy ai. Tôi sẽ rất cô đơn. Tôi không tránh được sợ hãi. Một điều, và chỉ một điều tôi cần phải có trong hoàn cảnh như thế, đó là cậy tin phó thác vào Chúa. Một cách tuyệt đối. Một cách triệt để. Một cách kiên trì.
10.
Một phút trước khi ngủ, tôi lại hôn tượng Chúa chịu đóng đinh. Tôi nói với Người: “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Thế rồi, tôi ngủ trong tâm hồn phó thác.
Khi ngủ, tôi thường gặp Chúa Giêsu trong tiềm thức và vô thức. Như vậy, có thể nói: Chúa Giêsu là Đấng tôi gặp suốt ngày suốt đêm. Nhờ vậy, tôi được cùng với Người, góp phần vào việc lo cứu các linh hồn theo khả năng bé mọn của tôi.
11.
Dần dần, tôi khám phá thấy Tin Mừng là chính Chúa Giêsu. Người cứu tôi, và dùng tôi để cứu  người khác. Trong suốt con đường cứu chuộc, Người đã bước xuống, đã cúi xuống, đã quỳ xuống. Tình yêu của Người là những hy sinh tự hạ dành cho những kẻ yếu hèn tội lỗi.
Suốt đời này và mãi mãi đời sau, tôi sẽ ca tụng Người, và làm chứng về Người, dù chỉ được vài người  nghe và tin vào những gì tôi làm chứng về Người, tôi vẫn cho đó là một niềm vui và một niềm hy vọng.
Bởi vì chính Chúa Giêsu thực là hy vọng và là niềm vui của tôi. Chính Người là: “Đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Chính  nhờ Người, với Người và trong Người, mà tôi yêu thương đồng bào của tôi, phục vụ Đất Nước của tôi, gắn bóvới Hội Thánh của tôi.
12.
Qua những gặp gỡ với Chúa Giêsu, tôi được Người cho thấy là Hội Thánh đang đi vào một giai đoạn rất khó khăn, cuộc chiến giữa thiện và ác sẽ rất khốc liệt, lực lượng Satan sẽ rất lộng hành, lôi kéo các linh hồn xuống hoả ngục một cách dã man và dễ dàng, đạo đức sẽ xuống dốc trầm trọng. Vì thế, hãy mau trở về với Chúa, bằng con đường Tin Mừng là Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Người là “cửa chuồng chiên” (Ga 10,7). Không qua cửa đó mà vào chuồng chiên chính là trộm cướp (x. Ga 10,1).

Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con.

ĐGM. GB. BÙI TUẦN

Thứ Tư, 31 tháng 12, 2014

NIỀM VUI CỦA TÔI HÔM NAY

NIỀM VUI CỦA TÔI HÔM NAY

1.
Nhiều lúc, tôi cảm thấy mình như tụt dốc trầm trọng. Đau đớn, mỏi mệt, chán nản, buồn lo, sợ hãi, tất cả như những đợt sóng thay nhau đổ vào hồn tôi.
Tôi phải phấn đấu với chính mình để đi nốt quãng đời còn lại. Tôi cầu nguyện không ngừng. Tôi vững tin vào lời Chúa hứa: “Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28).
2.
Lời Chúa không sai. Chúa đã bồi dưỡng cho tôi và cho tôi được nghỉ ngơi, bằng cách Người ban cho tôi được một niềm vui thiêng liêng. Niềm vui đó là được gặp Chúa những khi nhận được và những khi cho đi các việc từ thiện. Niềm vui này rút ra từ Phúc Âm, trong đoạn Chúa nói về ngày phán xét chung.
Ngày ấy, Chúa sẽ nói với những người được xếp bên hữu Chúa những lời sau đây: “Nào, những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các con ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các con đã cho ăn. Ta khát, các con đã cho uống. Ta là khách lạ, các con đã tiếp rước. Ta trần truồng, các con đã cho mặc. Ta đau yếu, các con đã thăm nom. Ta ngồi tù, các con đã đến thăm. Bấy giờ, những người công chính sẽ thưa rằng: Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống, có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước, hoặc trần truồng mà cho mặc. Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến thăm đâu. Để đáp lại, Chúa sẽ bảo họ rằng: Ta bảo thật các con, mỗi lần các con làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta, là các con đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,34-40).
3.
Với niềm tin vào Lời Chúa trên đây, tôi nhìn tất cả những ai đã làm cho tôi bất cứ việc từ thiện nào đều sẽ được Chúa xót thương. Họ sẽ được gặp Chúa. Họ sẽ được Chúa yêu thương, đời sau và ngay cả ở đời này.
Họ được Chúa yêu thương, đó là một niềm vui lớn lao tôi được cảm nhận rất rõ. Cảm nhận đó càng rất an ủi tôi, khi tôi thấy có những người đã sống từ thiện một cách âm thầm, tế nhị, như lời Chúa dạy: “Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời ban thưởng. Vậy, khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được thưởng công rồi. Còn anh em, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh em bố thí được kín đáo. Và Cha của anh em, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh em” (Mt 6,1-4).
4.
Số người bố thí cho tôi một cách tế nhị, kín đáo, như Chúa dạy trên đây, không phải là ít. Họ thuộc đủ mọi thành phần, trong Công giáo và ngoài Công giáo. Tôi thấy Chúa trong họ. Điều đó đem lại cho tôi niềm vui thiêng liêng, giúp cho cuộc sống của tôi được triển nở. Tôi xin hết lòng cảm tạ Chúa. Đó là niềm vui, khi nhận được các việc từ thiện.
5.
Còn khi cho đi các việc từ thiện thì sao? Thưa, trong hoàn cảnh già nua, bệnh tật, bị giới hạn bởi những yếu đuối và tội lỗi, tôi vẫn cố gắng cho đi những việc từ thiện. Nhỏ bé thôi, bằng nhiều cách. Dầu vậy, tôi vẫn gặp được Chúa. Đó là niềm vui thực sự sâu thẳm, Chúa ban cho tôi.
6.
Tôi có cảm tưởng là Chúa đợi tôi nơi những người già nua, bệnh tật, nghèo túng, khổ đau. Họ là những địa chỉ có Chúa đợi chờ. Tất nhiên, nhà thờ vẫn là một địa chỉ của Chúa. Nhưng địa chỉ đó không miễn trừ cho tôi khỏi tìm đến địa chỉ những người đau khổ.
7.
Xưa, trong đêm Chúa giáng sinh, các thiên thần đã báo tin mừng cho các mục đồng đang chăn chiên. Các thiên thần đã bảo họ đến tìm Đấng Cứu Thế mới giáng sinh ở một địa chỉ rất nghèo, đó là một hang bò lừa giữa cánh động lạnh lẽo. Tương tự cũng vậy, đôi lúc tôi cũng được thôi thúc trong lòng hãy đi tìm Chúa ở những địa chỉ nghèo khổ. Tôi đã vâng, và tôi đã gặp được Chúa ở những địa chỉ đó. Tại những địa chỉ đó, Chúa đã dạy tôi là hãy bắt chước Chúa, mà chia sẻ thân phận những người nghèo khó, bệnh tật, già yếu, khổ đau. Chúa sẽ như một tình yêu trao tặng nhưng không, mà không tìm được đền đáp. Tôi vâng làm như vậy. Và tôi cảm thấy rất vui, một niềm vui mênh mông sâu thẳm dạt dào.
8.
Những gì tôi chia sẻ trên đây không phải chỉ thuộc riêng tôi. Tôi tin chắc nhiều người tại Việt Nam hôm nay cũng đã và đang cảm thấy niềm vui được gặp Chúa, những khi nhận được và những khi cho đi các việc từ thiện một cách khiêm nhường, tế nhị, cho dù kín đáo.
Tôi nói là rất nhiều người tại Việt Nam hôm nay đang được Chúa ban cho niềm vui cao quý ấy. Tôi xác tín là họ, dù trong đạo hay ngoài đạo, sẽ là những người cộng tác với Chúa để đưa dân tộc Việt Nam đến bình an và hạnh phúc thật.
Tình hình đang diễn biến phức tạp, có thể là nguy hiểm. Vì thế, bênh cạnh những biện pháp về an ninh, ngoại giao, kinh tế, văn hoá và các biện pháp thuộc sức tự nhiên, tôi nghĩ là chúng ta không nên quên tựa nương vào sức thiêng liêng của Thiên Chúa. Thiên Chúa là tình yêu. Chỉ có tình yêu mới cứu được chúng ta.
9.
Đức Thánh Cha Phanxicô mới phát biểu dịp lễ Giáng sinh năm nay, 2014. : “Quá nhiều nước mắt đã rơi trong lễ Giáng sinh”. Ngài có ý nói về những khổ đau gây nên tại nhiều nước do hận thù, ngay trong chính lễ Giáng sinh, Thánh lễ nhiều, nhưng thiếu tình yêu thương với nhau, thì còn gì là bình an cho người thiện tâm. Cái tâm thiếu yêu thương là cái tâm không thiện. Cái tâm không thiện thì không đem lại bình an, thậm chí cũng không thể đón nhận được bình an. Do đó, niềm vui đích thực phải khởi đi từ việc từ thiện, theo lời Chúa và theo gương Chúa.
Nếu đất nước và con người có phát triển về của cải để hưởng thụ, mà không phát triển về cái tâm hướng về yêu thương lo từ thiện, thì hòa bình sẽ rất mong manh, hạnh phúc sẽ rất giới hạn.
Vì thế, niềm vui của tôi được Chúa ban cho là một mời gọi tôi đến trách nhiệm phải đào tạo cái tâm, theo mô hình trái tim Đức mẹ Maria.
Lạy Mẹ, xin Mẹ thương xót con.
Gm. GB. Bùi Tuần
Long Xuyên ngày 27-12-2014

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

NGOẠI KIỀU và LỮ KHÁCH

NGOẠI KIỀU và LỮ KHÁCH

1.
Tôi ở Long Xuyên, trong Tòa Giám Mục, đã hơn 40 năm rồi. Nhưng khi về già, nhiều lúc tôi cảm thấy rất thấm thía một lời Kinh Thánh nói về thân phận con người sống đức tin. Lời đó là: “Tôi xưng mình là ngoại kiều và là lữ khách trên mặt đất này” (Dt 11,13).
2.
Tôi cảm thấy mình là ngoại kiều và là lữ khách trên mặt đất. Vì tôi, cũng như ông Apraham, vâng lời Chúa mà ra đi, đến một nơi sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, đó là thiên đàng. Nhưng hiện giờ tôi chưa tới đó. Nên tôi sống trên mặt đất này, nhìn về đó, như một ngoại kiều và lữ khách trên đường còn dài.
Với kiểu nói như trên, tôi xác tín rằng: Theo đức tin, một đàng tôi phải dấn thân cho Quê Hương tôi trên trái đất này, nhưng một đàng, tôi vẫn phải hướng về Quê Hương trên trời là đích điểm sau cùng của đời tôi. Vì thế, tôi phải biết sống trên trái đất này, như một ngoại kiều và như một lữ khách hướng về Quê Hương Chúa hứa.
3.
Ngoài ra, tôi còn cảm thấy mình là ngoại kiều và là lữ khách theo một phương diện khác. Đó là, mặc dầu tôi chỉ ở một chỗ qua bằng ấy năm, nhưng cuộc sống luôn chuyển biến. Nhà cửa thay đổi, nhân sự thay đổi, các liên hệ thay đổi, thời tiết thay đổi. Trong dòng đời có vô vàn thay đổi, còn tôi thì muốn ổn định, nên có lúc tôi không tránh được cảm nghĩ mình là ngoại kiều và là lữ khách ngay tại chính nơi tôi đang sống.
Cảm nghĩ đó sinh ra trong tôi một sự bất an nào đó, một sự cô đơn nào đó.
4.
Từ những kinh nghiệm riêng tư vừa kể, tôi nghĩ tới tương lai của giáo phận nói chung và của từng cộng đoàn nói riêng.
Tình hình cho phép tôi nghĩ rằng: Nhiều bất ổn sẽ xảy ra khắp nơi. Có chỗ hiện giờ bầu khí đạo coi như sốt sắng, nhưng rồi sẽ ra nguội lạnh. Có chỗ hiện giờ số người công giáo là đa số nhiệt tình, nhưng rồi ở đó đa số sẽ lại là người ngoài công giáo. Rất có thể chính nơi thờ phượng hôm nay sẽ có ngày không còn là nơi thờ phượng nữa, hoặc sẽ trở thành hoang vu.
5.
Khi những bất ổn như thế xảy ra, mỗi cộng đoàn công giáo và từng người công giáo sẽ cảm thấy mình như là ngoại kiều và như là lữ khách ngay trên chỗ ở của mình.
6.
Lúc đó, phải sống đức tin thế nào đây? Thưa, phải cởi mở.
Thiên Chúa không phải là Đấng chúng ta có thể đóng kín trong một giáo lý, trong một cơ chế, trong một nhà thờ. Nhưng Thiên Chúa là Đấng chúng ta có thể gặp Người, lúc và nơi mà chúng ta không chờ đợi. Người đến một cách bất ngờ. Người là Đấng tạo dựng những gì mà con người không hề dám hy vọng.
7.
Tôi nghĩ là: Xưa Do Thái đã xây tháp Babel, biểu tượng cho ý chí muốn ổn định tại nơi đó. Nhưng Chúa đã phá ý định ấy. Nay, nhiều khi chúng ta cũng bắt chước họ, xây dựng những công trình và cơ chế có tính ổn định, để sống khép kín đức tin trong đó. Nhưng rồi Chúa lại đến phá vỡ những tháp Babel ấy.
8.
Chúa Giêsu thành Nagirét xưa đã không đóng kín mình trong một ngôi nhà. Người nói: “Con chồn có hang, chim trời có tổ. Nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9,58). Các môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu cũng đã sống như vậy.
9.
Thánh Phêrô khuyên giáo dân: “Anh em thân mến, anh em là khách lạ và là lữ khách, tôi khuyên anh em hãy tránh xa những đam mê xác thịt, vốn gây chiến với linh hồn. Anh em hãy ăn ở ngay lành giữa dân ngoại, để ngay cả khi bị người ta vu khống, coi anh em như là người gian ác, người ta cũng thấy các việc anh em làm mà tôn vinh Thiên Chúa, trong ngày Người đến viếng thăm” (1 Pr 1,11-12).
Bằng những lời trên đây, thánh Phêrô muốn chúng ta cứ hãy sống giữa những người không công giáo, như những chứng nhân về đời sống đạo đức, nhất là về nhân bản.
10.
Hiện giờ, Chúa Thánh Thần đang mở ra một kỷ nguyên mới về truyền giáo, đó là kẻ nghèo loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo. Thánh Phanxicô Assisi đã làm như thế. Đức Thánh Cha Phanxicô cũng hô hào làm như vậy. Nghĩa là: Người truyền giáo hãy sống khó nghèo, ưu tiên lo cho những người nghèo.
Nếu thế, thì chúng ta nên nhìn tương lai với đôi mắt đức tin của người không quá lệ thuộc vào những ổn định của cơ chế, và thói quen, nhưng hãy luôn luôn là kẻ lên đường hướng về trung tâm là Chúa.
11.
Không ai trong chúng ta dám nói là mình không cần đến cơ chế tôn giáo. Nhưng chúng ta phải biết nhìn cơ chế mở ra về các biến cố, nhất là các biến cố bất ngờ. Chính Chúa là Đấng sẽ “làm nên mọi sự nên mới” (Kh 21,5).
Với những suy nghĩ trên đây, tôi bước sang Năm Mới, như một người lên đường, sẵn sàng cho những bất ngờ. Tôi sống như lữ khách và ngoại kiều hướng về Tương Lai Trời mới Đất mới do Chúa làm chủ.


GM. Gioan B. Bùi Tuần
Long Xuyên, ngày 8.12.2014.

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2014

NHỮNG BẤT ỔN VÀ NHỮNG BẤT NGỜ

NHỮNG BẤT ỔN VÀ NHỮNG BẤT NGỜ

1. Từ ít lâu nay, mỗi tối, khi lên giường ngủ, tôi lại tự nghĩ: không biết sáng mai mình còn thức dậy không? Tôi đã nghĩ như vậy, là vì sức khỏe của tôi rất bất ổn, cho nên mọi thứ bất ngờ thuộc về sự chết đều có thể xảy ra cho tôi. Tôi không bi quan, nhưng tôi chuẩn bị cho những bất ngờ một cách bĩnh tĩnh bằng đức tin.
Kinh nghiệm sống động trên đây của bản thân giúp tôi nhìn lịch sử một cách tỉnh thức hơn

2. Ở đâu,cuộc sống con người có những bất ổn nặng nề kéo dài về nhiều mặt, do đó lòng người cũng bất an dưới nhiều hình thức và nhiều mức độ, thì những bất ngờ sẽ xảy ra. Thường những bất ngờ đó sẽ gây nên tang tóc. Đó là về mặt xã hội.

3. Ở đâu, cuộc sống có vẻ ổn định theo cái nhìn của nhiều người, nhưng trước mặt Chúa lại là rất bất ổn, do tội lỗi lộng hành, thì những bất ngờ sẽ xảy ra. Những bất ngờ đó thường là những sụp đổ, những tàn phá, như những hình phạt, gây nên đau đớn kinh hoàng. Chúa đã báo trước, nhưng người ta không tin. Nên kết quả sẽ rất thảm hại.

4. Ở đây, suy nghĩ của tôi xin được giới hạn trong lĩnh vực đức tin.
Về những hình phạt khủng khiếp sẽ xảy ra bất ngờ ngay tại đời này cho những người theo đạo Chúa, thì tôi thường suy gẫm hai đoạn Phúc âm sau đây.
5. Đoạn Phúc âm thứ nhất là của Thánh Luca:
Khi đến gần Giêrusalem và trông thấy thành, Ðức Giêsu khóc thương mà nói: "Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! "Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được.  Thật vậy, sẽ tới những ngày quân thù đắp luỹ chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề. Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái đang ở giữa ngươi, và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm". (Lc 19, 41-44)

6. Đoạn Phúc âm thứ hai là của Thánh Matthêu:
"Giêrusalem, Giêrusalem! Ngươi giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi! Ðã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu. (38) Thì này, nhà các ngươi sẽ bị bỏ hoang mặc cho các ngươi. (39) Thật vậy, Ta nói cho các ngươi hay, từ nay các ngươi sẽ không thấy Ta nữa, cho đến khi các ngươi nói:
Chúc tụng Ðấng ngự đến nhân danh Ðức Chúa!" (Mt 23, 37-39)
7. Trong cả hai đoạn Phúc âm trên đây, Chúa Giêsu đều nói đến hình phạt nặng nề sẽ xảy ra cho Giêrusalem ngay ở đời này, vì tội thành này đã phạm tới các tiên tri, phạm đến chính Chúa Giêsu và không biết đón nhận ơn Chúa.
Nghĩa là những bất ổn do tội lỗi trước mặt Chúa đã xảy ra trước. Sau đó sẽ là những hình phạt đổ xuống bất ngờ một cách khủng khiếp.
8. Những gì Chúa Giêsu đã nói về thành Giêrusalem đều đã xảy ra. Từ đó, tôi nghĩ về Hội Thánh tại Việt Nam nói chung và từng giáo phận, giáo xứ tại Việt Nam nói riêng.
Tôi thấy tình hình bất ổn do tội lỗi đang là một sự thực hiển nhiên ở nhiều nơi. Cũng có những ổn định, nhưng là ổn định giả tạo. Có những trấn an: “ mọi sự đều tốt đẹp, không sao đâu”. Nhưng đó là những trấn an ru ngủ trên những thành công giả tạo, mà trong Phúc âm, Chúa đã khẳng định: “chúng bay đã được thưởng công rồi” (Mt 6, 2.5.16), hoặc: “ Ta không biết các ngươi” (Ga 7,23).

9. Nếu phải nêu lên những gì đang gây nên bất ổn nguy hiểm trong Hội Thánh, làm nên tội lỗi, thì tôi xin được nêu lên hai ý kiến sau đây.

10. Ý kiến thứ nhất là của Đức Hồng Y Roger Etchegary. Theo ngài, thì có ba bất ổn lớn hiện nay, đó là ba ưu tiên xấu sau đây trong Hội Thánh:
Ham tiền bạc,
Ham thành công,
Ham thỏa hiệp với các vị thần có quyền lực và giàu có.
                (Xem L’homme, à quel prix. 2012)

11. Ý kiến thứ hai là của Đức Cha Michel Dubost. Ngài dựa trên Công đồng Vatican II. Theo ngài, thì có hai bất ổn rất lớn trong Hội Thánh hiện nay.
Một là thiếu thiện chí và thiếu khả năng chia sẻ trong tình liên đới những gì đang xảy ra trong lòng những người nghèo khổ, cùng với niềm vui và hy vọng của họ.
Hai là thiếu sự cố gắng đổi mới trái tim con người là nơi không những xảy ra những buồn vui và hy vọng, mà cũng có những dấu vết của tiếng Chúa gọi. ( Xem Une foi qui agit. 2013)

12. Chỉ dựa vào những ý kiến có thế giá trên đây mà thôi, để nhìn vào Hội Thánh Việt Nam hiện giờ, tôi cũng thấy tình hình đó đây rõ ràng là bất ổn. Những bất ổn đó đang làm biến chất đạo Chúa. Biến chất càng trở thành trầm trọng, khi thấy các phong trào xấu đang mạnh lên, tràn vào Hội Thánh, như phong trào tục hóa, phong trào hưởng thụ, phong trào tự do quá trớn, phong trào phản kháng cực đoan,vv.
Vậy, nếu những bất ổn hiện nay trong Hội Thánh Việt Nam đang trở nên nặng nề  và nguy hiểm, không dừng lại được, thì sẽ có những bất ngờ xảy ra. Tôi nghĩ tới những biến cố đớn đau.

13. Hình như biến cố đớn đau đã bát đầu rồi, đó là sự cứng lòng và mù quáng đang xảy ra nơi nhiều người, kể cả nơi một số người có trách nhiệm trong Hội Thánh Việt Nam lúc này. Đó chỉ là khởi đầu. Vì thế, mà tôi lo sợ.

14. Tuy tôi lo sợ, nhưng vẫn tin tưởng vững vàng ở Chúa. Chúa hứa: “ Cha sẽ ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).

Tôi xin làm chứng về điều hứa trên đây của Chúa Giêsu. Tôi thực sự được Chúa ở với tôi mọi ngày, mọi giờ, mọi phút. Tôi được Chúa chia sẻ, được Chúa cứu, được Chúa yêu thương, được Chúa đỡ nâng dắt dìu trong mọi hoàn cảnh. Tôi xin hết lòng cảm tạ Chúa. Cảm tạ của tôi ở trong sự khiêm nhường dấn thân của Đức Mẹ. Cảm tạ của tôi ở trong sự tỉnh thức sâu thẳm của Thánh Giuse.
Lạy Chúa, bất ngờ lớn nhất đối với con là tình yêu thương xót Chúa.

                                           
GM. GB. Bùi Tuần
   Long Xuyên 27.11.2014

Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2014

CHÚA ĐÁNH THỨC TÔI

CHÚA ĐÁNH THỨC TÔI
1.
Càng ngày sức khỏe của tôi càng giảm sút. Sự giảm sút này được tôi cảm nghiệm về mọi mặt một cách sống động. Như một sự đổ vỡ, như một sự tiêu tan, như một sự mất mát. Nếu cứ thế để mình buông trôi, thì sẽ ra sao? Nhưng hạnh phúc cho tôi, vì Chúa ở bên tôi. Chúa cho tôi nhớ lại lời thánh Phaolô xưa: “Dù con người bên ngoài của chúng tôi có tiêu tan đi, thì con người bên trong của chúng tôi ngày càng đổi mới” (2 Cr 4,16). Lời kinh thánh trên đây đã đánh thức tôi.
2.
Tôi được thức tỉnh trong hân hoan và hy vọng tràn trề. Chúa đánh thức tôi, để rồi lại giúp tôi sống trong tỉnh thức mà Chúa hướng dẫn.
Hôm nay, tôi xin mạo muội chia sẻ đôi chút về sự con người bên trong của tôi đang được Chúa đổi mới, giữa lúc con người bên ngoài của tôi đang tới chỗ tiêu tan.
3.
Yếu tố căn bản được tôi cảm nghiệm đổi mới rõ nhất, chính là lòng mến Chúa.
Tôi được Chúa đốt lên trong tôi lửa khao khát Chúa.  Tôi khao khát Chúa, như người con bé nhỏ khao khát tình yêu của cha mình. Khao khát Chúa, nên thích ngắm nhìn Chúa, thích nói chuyện với Chúa, thích lắng nghe Chúa. Tỉnh thức trước Chúa trở thành một khao khát lớn.
4.
Do vậy, mà tôi ưa thích dâng lên Chúa lòng cảm tạ. Cảm tạ về mọi ơn hồn xác, nhất là ơn được làm con Chúa. Trong cảm tạ, tôi ý thức rất rõ: tôi nhận được mọi ơn do lòng thương xót Chúa. Người đã ban cho tôi nhưng không. Cảm tạ như thế là sống sâu sắc sự khó nghèo. Làm mọi sự với ý muốn làm đẹp lòng Chúa trong phó thác trọn vẹn, mặc dầu tôi biết tôi chẳng là gì, chẳng đáng gì. Tôi xác tín điều này cũng rất đẹp lòng Chúa, đó là sự tôi biết đau những nỗi đau của Đất nước tôi, của Hội thánh tôi. Những nỗi đau đó đã đánh thức tôi. Tôi cũng rất cảm tạ Chúa đã giúp tôi biết lo phân định điều gì là thánh ý Chúa, điều gì là ý riêng hay ý của thần dữ. Trong tình hình hiện nay, biết phân định là một ơn cần thiết.
5.
Một cách cảm tạ, mà Chúa soi sáng cho tôi thực hiện, là  hãy biến đổi chính mình thành của lễ  cho tình yêu Chúa. Hình ảnh của lễ mà Chúa dạy tôi nên nhìn vào, để bắt chước, chính là hình ảnh Đức Mẹ dưới chân Thánh giá Chúa Giêsu. Nơi của lễ đó, tình yêu đã mang sức mạnh lòng thương xót  Chúa có giá trị làm sáng danh Thiên Chúa và có sức cứu các linh hồn.
6.
Khi cảm tạ Chúa bằng cách sống như một của lễ, tôi thấy lòng tôi vừa đi lên vì yêu mến, vừa đi xuống vì vâng phục. Vâng phục là điều rất cần để trở thành của lễ, nhất là trong lĩnh vực phục vụ yêu thương. Về điểm đó, tôi thường phải sám hối vì những thiếu sót và sai phạm. Tôi quan niệm rằng: Phục vụ là phải đáp ứng đúng nhu cầu, bằng đúng việc, đúng cách, đúng lúc. Thế mà nhiều lần tôi đã không đúng. Tôi đau xót vì điều đó.
7.
Khi tôi thấy lòng tôi buồn chán, tôi được Chúa dạy hãy nhìn vào của lễ thiêng liêng gần xa xung quanh tôi. Bao người đang vui được dâng chính mình làm của lễ, hợp với của lễ của Chúa Giêsu trên thánh giá. Tự nhiên tôi nhận được hy vọng ngọt ngào. Tôi hy vọng những của lễ đó đang góp phần làm cho tôi và cho nhiều người được sống lại. Như vậy, tôi hãy vui vì là của lễ, cho dù tôi phải từ bỏ mình.
8.
Thú thực là, khi tình yêu Chúa càng tăng lên, thì đau đớn cũng tăng lên theo.
Đau đớn, mà Đức Mẹ đã cảm thấy, khi được làm của lễ theo Chúa Giêsu, đã được tiên tri Simêon ví như  lưỡi đòng đâm vào trái tim (x. Lc2, 35).
Lưỡi đòng hiện nay thực sự đang đâm vào trái tim các người dâng mình làm của lễ gồm nhiều thứ, đó là những phấn đấu chống lại các tinh thần xấu như:
Tinh thần trần tục hóa đang tàn phá những gì là linh thiêng trong đạo.
Tinh thần hưởng thụ đang phổ biến con đường rộng và cửa rộng, nghịch với Phúc Âm.
Tinh thần kiêu căng đang lôi kéo con người đi xa đức vâng phục và khiêm nhường.
Tinh thần hướng ngoại đang chống phá nội tâm và các giá trị của nó.
Tinh thần ghen tương cục bộ đang quấy rối sự hiệp nhất.
Tinh thần gian dối đang xóa bỏ sự chân thành trong các mối tương quan.
Tinh thần nông nổi đang có những lựa chọn sai lầm làm mất uy tín Hội thánh.
Tinh thần dửng dưng đang làm cho lương tâm nhiều người trở nên chai cứng.
Theo tôi, điều làm cho những người đang là của lễ phải rất đau lòng chính là các phong trào giết người hàng loạt dưới nhiều hình thức đang xảy ra tại nhiều nơi, cả trong đạo lẫn ngoài đời. Giết người hàng loạt nói đây là giết người về đức tin, về đạo đức, về lương tâm.
Lưỡi đòng cũng còn là những thử thách Chúa để cho các người muốn là của lễ đền tội phải chịu. Chúa Giêsu xưa trên thánh giá đã kêu lên: “ Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con” (Mc 15,34). Họ cũng có những lúc phải trải qua những cơn đau ghê gớm, đến nỗi phải thở than như thế. Đau đớn nào cũng là đau đớn.
9.
Được Chúa đánh thức là được một ân huệ Chúa ban. Nhưng con người vẫn có tự do từ chối. Tôi có kinh nghiệm điều đó nơi chính mình và nơi người khác.
Thực vậy, nếu tôi không thực sự nhận mình yếu đuối, cứ tưởng mình luôn trên con đường công chính, thì tôi đâu có nghĩ là tôi cần phải được đánh thức. Tôi tự nhiên thích ngủ yên trong cảm nghĩ an phận. An phận với những hào quang giả. An phận với những hư danh trống rỗng. An phận với những tự sướng phù du. An phận đó cũng có một phần cứng lòng và mù quáng.
Rất may mà Chúa giúp tôi luôn nhìn thấy mình rất yếu đuối và nặng nề, nên tôi rất vui được Chúa đánh thức, để phấn đấu trở về với Chúa trong bình an và phó thác.
10.
Ơn trở về đòi những bắt đầu và bắt đầu lại. Bởi vì con người tôi thực sự rất yếu đuối. Cũng xin nói ngay là những bắt đầu lại thường được thực hiện nhờ những đánh thức mới. Đối với tôi, những đánh thức mới hiện nay nổi nhất là gương hai Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI và Phanxicô.
Hai Đức Giáo Hoàng đáng kính này rất ý thức về trách nhiệm lái con tàu Hội Thánh Chúa trong những khúc ngoặt lịch sử đầy sóng gió. Các ngài nhận biết mình yếu đuối. Nhưng các ngài xin vâng, trong tinh thần đức tin vững mạnh và với lửa đức ái nồng nàn. Sức mạnh nơi các ngài là từ Chúa trong nội tâm khiêm tốn cầu nguyện. Nhờ sức mạnh đó, các ngài đã trở thành người của toàn thế giới, chứ không còn là người của riêng Hội thánh Công giáo. Mỗi ngày tôi theo dõi thời sự của hai Đức Thánh Cha để bắt đầu lại. Kết quả là rất lạc quan, khi tôi chấp nhận phấn đấu với chính mình. Tôi rất cần được nâng đỡ và tha thứ.

Lạy Chúa, con xin hết cảm tạ Chúa vì ơn đã đánh thức con. Xin thương giúp con luôn biết tỉnh thức, để làm bất cứ sự gì Chúa muốn. Lạy Chúa, con hết lòng tin tưởng nơi Chúa.

                                                                              

GM. GB. Bùi Tuần  
Long Xuyên 10.11.2014