Thứ Năm, 27 tháng 3, 2014

TÂM SỰ CỦA MỘT NGƯỜI CHA GIÀ ĐAU YẾU




1.
Tôi mới đọc lại một bài của Đức Hồng Y Bergolio, nay là Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Bài này được Ngài giảng trong thánh lễ Dâng Chúa Giêsu trong đền thờ, ngày 02.02.2008.
Nội dung bài giảng là về “những người già”.
Vì là một người già đau yếu, tôi đọc mà thấy lòng mình thấm thía nỗi đau. Xin được chia sẻ nỗi niềm ấy của tôi trong tâm sự này.
2.
Ngay trong đầu bài giảng, Đức Hồng Y đã không ngại nói lên một cảnh đau buồn đang xảy ra tại nhiều nơi ở Nam Mỹ. Cảnh đau buồn đó là cách cư xử đối với những người già.
Theo Ngài nhận xét về chính sách dành cho người già, thì cả đời cả đạo đều có những tuyên bố rất hay. Nhưng thực tế lại khác.
Người già bị coi như kẻ bị loại trừ.
Người già bị khinh như kẻ bị đẩy ra ngoài lề xã hội.
Người già bị đối xử như kẻ bị từ bỏ, bị để trong những nhà hưu như kho dành cho các vật phế thải.
Người già bị chế giễu và bị bỏ quên.
3.
Những hình ảnh trên đây tạo nên trong tôi một bầu trời u ám. Tôi cảm thấy xót xa vô chừng.
Tôi thầm nghĩ: Nếu phần đông đối xử tệ như thế đối với những người già, thì chắc là họ có cơ sở. Nếu chính tôi cũng bị đối xử như thế, thì hẳn là vì tôi xứng đáng bị như thế. Bởi vì chính tôi cũng thấy mình đang là người thuộc loại không sản xuất được gì, mà lại còn gây phiền hà cho nhiều người khác.
4.
Thực vậy, tôi cảm thấy mình đang là gánh nặng cho cộng đoàn. Bởi vì đời sống của tôi hiện giờ phải lệ thuộc rất nhiều vào người khác, đi đứng, di chuyển đều phải nhờ người khác.
5.
Tôi cảm thấy mình đang là kẻ dư thừa, gây phiền toái cho cộng đoàn. Bởi vì tôi bị kể như không còn khả năng phục vụ, đã thế lại giữ cho mình những phương tiện sống đáng lẽ nên dành cho những người đang phục vụ.
6.
Tôi cảm thấy mình đang là kẻ gây chướng tai gai mắt. Bởi vì tôi có những lời nói, việc làm, thái độ vụng về mà người ta không muốn bao dung chấp nhận.
7.
Tôi cảm thấy mình đang là kẻ phạm đến quyền lợi của người khác. Bởi vì tôi có những suy nghĩ và những lời nói nào đó, mà người ta cho là pha mình vào chuyện của người khác.
8.
Tôi cảm thấy mình đang là kẻ bị kết án, không xứng đáng ở lại chốn này. Bởi vì tôi bị coi như kẻ làm gương xấu, gây hại cho ích chung.
9.
Những cảm thấy trên đây đang làm tôi đau đớn và sợ hãi. Tôi muốn tìm người, để tâm sự. Nhưng tôi sợ lại bị khổ thêm, do người ta khinh chê, xa tránh. Mất miền tin vào người khác, co mình lại, đó là triệu chứng của trầm cảm.
10.
Trầm cảm có lúc gây nên căng thẳng. Chỉ một chút thôi trong lời nói, trong thái độ, của ai đó, tuy vô hình, nhưng tỏ ra sự dửng dung, sự khinh miệt, đều có thể làm cho tâm hồn đang đau lại đau thêm.
11.
Những lúc đó, tôi không phải là hiểu, mà là cảm nhận được một cách sâu sắc tình trạng, mà Chúa Giêsu đã trải qua xưa trong vườn Cây Dầu. Người cảm thấy rất mực cô đơn, rất mực sợ hãi, rất mực khổ đau. Tôi cũng như Người, lúc đó gục đầu xuống đất, mà khẩn cầu: “Lạy Cha, nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén đắng này. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha mà thôi” (Lc 22,42).
12.
Và tôi cũng cảm nhận thấy rất cần được ủi an nâng đỡ. Tôi thấy nhu cầu ấy cũng đã có trong lời Chúa Giêsu trách các môn đệ: “Các con không thức nổi một giờ ở bên Thầy sao?” (Mc 14,37).
13.
Ai đã trải qua những trường hợp như thế, mới thấy những trường hợp như thế là rất khủng khiếp. Do vậy, cần phải rất nhạy bén và tế nhị đối với những người trong cơn khủng khiếp như thế, nhất là khi họ là những người già cả đau yếu, không còn sức khoẻ thân xác và tinh thần để vượt qua.
Tôi đã nhiều lần rơi vào những trường hợp khủng khiếp đó.
14.
Cũng may là trong tôi, Chúa vẫn hiện diện, Người thắp lên trong tôi một ngọn lửa nhỏ. Ngọn lửa nhỏ này là niềm tin yêu mãnh liệt. Nhờ ngọn lửa thiêng này, tôi biến đau khổ thành cơ hội đến với Chúa và đến với con người, một cách âm thầm nhưng đầy tin tưởng.
15.
Trước hết, tôi coi bản thân tôi đang đau đớn là một của lễ hy sinh. Tôi khiêm tốn dâng lên Chúa của lễ hy sinh đó, hợp với của lễ hy sinh Chúa Cứu Thế đã dâng xưa trên thánh giá.
16.
Với của lễ hy sinh đó, tôi chúc phúc lành cho những người thân yêu của tôi. Như xưa ông già Simêon đã chúc lành cho Đức Mẹ và Thánh Giuse, khi hai Đấng dâng Chúa Hài Đồng trong đền thờ (x. Lc 2,33-35).
17.
Rồi, cũng với của lễ hy sinh đó, tôi chuyển giao kinh nghiệm của tôi cho cộng đoàn và những thế hệ đi sau. Như xưa bà già Anna “đã nói về Hài Nhi Giêsu cho hết những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giêrusalem” (Lc 2,38).
18.
Những gì tôi chia sẻ trong tâm sự này đều rát chân thành. Cũng với tất cả tấm long chân thành, tôi thú nhận tôi rất yếu đuối, hèn hạ, tội lỗi, rất cần được Chúa xót thương và cũng rất cần được cộng đoàn cảm thông.
19.
Để kết, tôi xin mượn ý của Đức Thánh Cha Phanxicô về người già:
- Nhu cầu được có người ở bên,
- Nhu cầu gặp được một cái nhìn yêu thương có sức làm êm dịu nỗi lo âu sợ hãi...
- Nhu cầu được cảm thấy mình có ích cho người khác.
- Nhu cầu làm nhẹ nỗi đau.
Đó là những gì anh chị em nên làm cho những người già cả đau yếu, trong đó có tôi.
Xin cảm tạ Chúa hết lòng.
Xin chào chúc anh chị em được bình an trong Chúa.

ĐGM. GB. Bùi Tuần
Long Xuyên, ngày 12 tháng 3 năm 2014

Ngày giỗ Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp

LẠY CHÚA, XIN DẠY BẢO CON


  
1.
Sự Chúa hiện diện trong cuộc sống của tôi là điều số một tôi quan tâm hằng ngày. Bởi vì tôi tin: Chúa là Đấng đưa tôi tới đích điểm sau cùng của đời tôi, tức cõi phúc đời đời.
2.
Đức tin dạy tôi về sự Chúa hiện diện trong đời tôi bằng nhiều hình ảnh sống động và thân thương. Như: Chúa ở trước mặt tôi, Chúa ở bên tôi, Chúa ở trong tôi.
3.
Tôi tin và dần dần tôi cảm nhận thấy điều tôi tin là rất sống động. Chúa là Đấng vô hình. Nhưng tôi cảm nhận thấy Người yêu thương tôi, Người dạy dỗ tôi, Người dẫn dắt tôi, Người bảo vệ tôi, Người giải cứu tôi, Người an ủi tôi.
4.
Tin như vậy đã trở thành gặp gỡ. Sự gặp gỡ này rất sống động, rất thân mật và rất riêng tư.
5.
Gặp gỡ như thế đòi một sự gắn bó chân thành. Sự gắn bó ấy được Chúa Giêsu mô tả bằng một hình ảnh dễ hiểu. Người nói: “Thầy là cây nho, các con là cành…Cũng như cành nho không thể tự mình sinh ra hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho. Các con cũng vậy…Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, các con không làm gì được” (Ga 15,1-5).
6.
Trong thinh lặng nội tâm, tôi hay nói với Chúa hiện diện trong tôi câu này: “Lạy Chúa, xin dạy bảo con những gì là hoa trái mà Chúa muốn nơi con”.
Để trả lời, Chúa dẫn đưa lòng trí tôi vào Phúc âm, nơi đó có ghi lại lời Chúa. Hiện giờ, hơn bao giờ hết, Chúa dạy bảo tôi qua bốn dụ ngôn được ghi lại trong Phúc âm thánh Matthêu. Bốn dụ ngôn này đều đưa ra loại người tốt và loại người xấu. Chọn làm theo gương người tốt, đó là điều sinh hoa trái tốt.
Vì khao khát sinh được hoa trái tốt, tôi dừng lại ở từng loại người tốt, mà Chúa nêu lên, để nhận ra đặc điểm. Tôi thấy thế này:
7.
Trong dụ ngôn về những đầy tớ, thì có loại đầy tớ trung tín và loại đầy tớ bất trung. Người đầy tớ trung tín là “người cấp phát lương thực cho gia nhân đúng giờ đúng lúc” (Mt 24,45). Tôi tự hỏi mình: lối sống của tôi, những chia sẻ của tôi có mang tính chất lương thực tinh thần phục vụ cho dân Chúa đúng thời điểm không?
8.
Trong dụ ngôn về 10 người trinh nữ, thì có loại trinh nữ khôn ngoan và loại trinh nữ khờ dại. Trong đêm tối, những trinh nữ khôn ngoan “vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo” (Mt 25,4). Tôi tự hỏi mình: tôi làm những việc đạo đức bề ngoài, nhưng bên trong tôi có dầu là lửa mến Chúa yêu người thực không?
9.
Trong dụ ngôn những người quản lý, thì có loại quản lý siêng năng và có loại quản lý lười biếng. Người quản lý siêng năng là người biết dùng những của cải chủ trao phó mà làm ra lời. (x. Mt 25,14-23). Còn người quản lý lười biếng thì đem chôn của cải được trao. Tôi tự hỏi: Chúa trao cho tôi một số của cải vật chất và tinh thần, tôi có dùng những vốn đó để làm ra lời cho Nước Chúa không?
10.
Trong dụ ngôn về ngày phán xét chung, thì có loại người được thưởng lên thiên đàng, và có loại người bị phạt phải xuống hoả ngục. Loại người được thưởng lên thiên đàng là người hảo tâm, biết xót thương những ai đau khổ, (x. Mt 25,31-40). Còn loại bị phạt xuống hoả ngục là những người ác tâm, vô tâm, không biết xót thương những người đau khổ. Tôi tự hỏi: tôi có xót thương những người đau khổ không?
11.
Tôi xét mình theo bốn dụ ngôn một cách chân thành. Tôi thấy tôi thực sự luôn muốn chọn làm theo gương những người tốt, mà Chúa nêu lên. Nhưng tôi cũng phải thú nhận sự thực này là có nhiều trường hợp, việc thực hiện những lựa chọn của tôi đã có những lỗi lầm, thiếu sót.
Lỗi lầm hay xảy ra nhất là sự tôi nôn nóng sớm được nhìn thấy những hoa trái do những lựa chọn tôi thực hiện theo lời dạy của Chúa. Những hoa trái mà tôi mong có thể không phải là hoa trái mà Chúa muốn.
Lỗi lầm hay xảy ra cho tôi còn là sự tôi tưởng việc thực hiện làm theo những mẫu gương tốt là rất dễ dàng.
Tôi sám hối, xin Chúa thứ tha.
12.
Lạy Chúa, xin dạy bảo con”. Chúa dạy bảo tôi điều này là: Lựa chọn gắn bó với Chúa, lựa chọn thực thi lời Chúa, lựa chọn làm theo những gương tốt mà Chúa nêu lên, tất cả những lựa chọn đó đều là cuộc chiến đấu gay go.
13.
Lạy Chúa, xin dạy bảo con”. Chúa dạy bảo tôi: Phải cầu nguyện thật nhiều, phải có lòng khiêm tốn sâu xa, phải có tinh thần thơ ấu thiêng liêng và nghèo khó, mới có thể đón nhận được ơn Chúa, để sinh ra được những hoa trái tốt đẹp mà Chúa muốn. Những hoa trái đó cũng vẫn là những ơn Chúa ban. Hoa trái này sinh ra cách nào, lúc nào, dưới hình thức nào, tôi phải khiêm tốn phó thác nơi Chúa. Có thể tôi chỉ gặp thất bại. Nhưng trước mặt Chúa, thất bại ấy lại đưa tới thành công.
14.
Lạy Chúa, xin dạy bảo con”. Tôi không ngừng xin Chúa dạy bảo tôi. Và lúc này, Chúa đang dạy bảo tôi một điều hết sức quan trọng, đó là gương người tốt nhất chính là Chúa Giêsu trên thánh giá. Đó là gương yêu thương thắng ghen ghét, gương khiêm nhường thắng kiêu căng, gương nghèo khó thắng hưởng thụ giàu sang quyền lực, gương tha thứ thắng hận thù, gương hiền lành thắng giận dữ.
Bây giờ, tôi không những cầu xin Chúa dạy bảo tôi, mà còn xin Chúa dắt dìu tôi đi. Bởi vì, nếu không được Chúa cầm tay tôi mà dắt đi, thì dù biết được điều hay lẽ phải, tôi cũng chẳng thực hiện được. Đúng như lời Chúa đã dạy: “Nếu không có Thầy các con chẳng làm gì được” (Ga 15,5).
Trong khi viết bài chia sẻ này, tôi rất ý thức sự thực quan trọng đó. Thực vậy, với ơn Chúa, tôi phải lắng nghe lời Chúa. Với ơn Chúa, tôi phải biết chọn lựa. Với ơn Chúa, tôi phải biết tỉnh thức cầu nguyện. Với ơn Chúa, tôi phải biết kết hợp mật thiết với Chúa hiện diện trong tôi. Với ơn Chúa, tôi phải biết phó thác nơi Chúa và chân thành cộng tác với tất cả mọi người thiện chí.
Cuộc đời tôi có thể cũng là một bài chia sẻ dài. Tôi luôn cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin dạy bảo con”. Và tôi cũng phải cẩn thận kết hợp mật thiết với Chúa, còn hơn khi viết bài chia sẻ bé nhỏ này.
Lạy Chúa, Chúa chính là thân cây nho. Con là cành nho bé nhỏ. Con khẩn khoản và tha thiết xin ơn được luôn kết hợp mật thiết với Chúa.
Lạy Chúa, con xin cảm tạ Chúa.

ĐGM. GB. Bùi Tuần
Long Xuyên, ngày 21 tháng 03 năm 2014

Thứ Tư, 26 tháng 3, 2014

TÍNH SỔ TRƯỚC KHI CHẾT

1.
Từ mấy tháng nay, những tin về sự chết đến với tôi càng ngày càng nhiều.
Có những cái chết rất bất ngờ.
Có những cái chết rất thương tâm.
Có những cái chết kéo dài thê thảm.
Qua những cái chết, Chúa đang gọi tôi. Chúa gọi tôi hãy nghĩ đến cái chết của chính mình. Cái chết của tôi là kết thúc một chuyến đi lo công việc cho Chúa.
Công việc, mà Chúa trao cho tôi phải lo trong suốt chuyến đi cuộc đời, đã được ghi trong lòng tôi, khi tôi chịu phép Rửa tội, Thêm Sức, cũng như khi tôi được thụ phong linh mục và giám mục.
Hôm nay có thể là một ngày của cuối chuyến đi. Trong  tình hình mỏi mệt, tôi được Chúa nhắc nhủ cách riêng đến ba công việc quan trọng. Nhắc nhủ này được coi như dấu chỉ của tình yêu xót thương Chúa, tôi nên chia sẻ cho mọi người thuộc Hội Thánh là một cộng đoàn tình yêu.
2.
Công việc thứ nhất là loan báo Tin Mừng
Tin Mừng là Chúa Giêsu. Người đến trong thế gian, đi vào lịch sử nhân loại.
Người ta sẽ nhận ra sự Người đến qua những dấu chỉ nào? Chính Chúa Giêsu đã kể ra những dấu chỉ sau đây, khi trả lời cho các môn đệ thánh Gioan Baotixita: “Người mù được xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11,5).
Có thể gọi các dấu chỉ trên đây là các việc từ thiện bác ái, đặc biệt dành cho những người nghèo khổ. Từ thiện bác ái nói đây là thăng tiến con người, giải cứu con người khỏi mọi thứ sự dữ. Từ thiện bác ái gồm nhiều thứ khác nhau, từ việc làm đến tư tưởng thái độ, từ vật chất đến tinh thần, từ cầu nguyện đến bài giảng bài viết và lối sống...
3.
Ngay trong hội đường thành Nadarét, Chúa Giêsu cũng đã quả quyết những lời tiên tri Isaia nói xưa được áp dụng cho chính Chúa Giêsu: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho kẻ mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18).
4.
Theo những lời Chúa phán trên đây, thì các việc bác ái từ thiện làm cho người nghèo khổ, chính là dấu chỉ loan báo Tin Mừng cho tất cả nhân loại. Tin Mừng được loan báo cho mọi người qua việc thực hiện từ thiện bác ái cho người nghèo khổ.
Chính vì thế, khi các môn đệ Chúa làm các việc từ thiện bác ái dành cho người nghèo khổ, thì họ làm nên những dấu chỉ chắc chắn nhất về sự Chúa Giêsu hiện diện ở chính các ngài, và ở nơi các ngài hoạt động.
Làm việc bác ái từ thiện như những dấu chỉ của Chúa hiện diện, thì phải để ý đến những việc làm cụ thể và cách làm cụ thể, sao cho đúng là bác ái thật. Điều quan trọng là phải trao tặng rất nhiều tình yêu. Phải coi việc từ thiện bác ái là một vinh dự cao quý. Làm hết sức mình, còn kết quả ra sao hãy phó thác nơi Chúa. Chứ hễ thành công thì tự hào kể công, còn hễ thất bại thì đổ lỗi cho người khác. Làm thế là sai bác ái.
5.
Công việc thứ hai là dâng của lễ.
Dâng của lễ lên Thiên Chúa, mà tôi thực hiện hằng ngày, là dâng chính mình và tất cả mọi người lên Thiên Chúa.
Thánh Gioan thuật lại lời Chúa Giêsu phán xưa: “Phần tôi, một khi được đưa lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”. Rồi thánh Gioan nói: “Đức Giêsu nói thế, để ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào” (Ga 12,32-33). Tức là Chúa Giêsu hy sinh chết trên thánh giá vì yêu thương nhân loại. Đó chính là của lễ, mà tôi được mời gọi hãy làm theo.
Như vậy, của lễ tôi dâng lên Chúa là tình yêu với những hy sinh vì tình yêu. Nếu không, của lễ dâng lên Chúa không những chẳng có nghĩa gì, mà còn bị Chúa ruồng bỏ.
6.
Ở đây, tôi nhớ lại lời Chúa phán qua miệng tiên tri Isaia:
“Thôi, đừng đem những lễ vật vô ích đến nữa. Ta ghê tởm khói hương. Ta không chịu nổi ngày đầu tháng, ngày Sabát, ngày đại hội. Không chịu nổi những ngày cứ phạm tội ác, rồi cứ lễ lạt linh đình. Ta chán ghét những ngày đầu tháng, những đại lễ của các ngươi. Những thứ đó đã trở thành gánh nặng cho Ta. Ta không chịu nổi nữa. Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn. Các ngươi có đọc kinh cho nhiều. Ta cũng chẳng thèm nghe. Vì trong các ngươi đầy những máu. Hãy rửa cho sạch, hãy tẩy cho hết, và vứt bỏ tội ác của các ngươi khỏi chướng mắt Ta. Đừng làm điều ác nữa” (Is 1,13-16).
7.
Những lời trên đây khiến tôi lo sợ cho những gì tôi coi như là của lễ tôi và cộng đoàn của tôi hay dâng lên Chúa, như hoa, nến, công trình xây cất hoành tráng, tiền bạc chồng chất, các nghi lễ đẹp đẽ và các quy tụ đông đảo. Dâng những thứ đó lên Chúa thực sự không phải là làm điều ác. Nhưng để có những thứ đó, biết đâu tôi đã chẳng phạm  những bất công và phản bác ái. Cũng như khi dâng những thứ đó, biết đâu tôi lại không nhắm tìm một lợi ích tư riêng, trần tục. Cũng như khi dâng các thứ đó lên Chúa, mà tôi cảm thấy sung sướng, bình an, thì biết đâu sự sung sướng bình an đó chỉ là phản ánh của một sự tự đắc phô trương.
Chính vì thế, mà tôi phải rất tỉnh thức trong công việc dâng của lễ lên Chúa.
8.
Công việc thứ ba là thực hành nhiệm vụ ngôn sứ.
Nhiệm vụ ngôn sứ không phải là nói tiên tri về tương lai. Nhưng là nói những lời có chất lượng đạo đức nuôi dưỡng con người. “Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe” (Ep 4,29). Tất nhiên ngôn sứ đôi khi phải nói những lời cảnh báo, nhưng luôn giữ mình ở mức độ tình yêu, mà Chúa đòi ở các con cái Chúa.
Nhiệm vụ ngôn sứ còn là loan báo cho mọi người biết thánh ý Chúa trong những thời điểm nhất định.
9.
Theo tôi, thánh ý Chúa rất cần được thực hiện trong thời nay là giới răn mới của Chúa Giêsu: “Thầy cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13,34). Ngôn sứ của Chúa phải loan báo ý Chúa là yêu thương nhau, để mỗi người sẽ là dấu chỉ và là khí cụ của tình yêu, để các cộng đoàn đều trở thành những cộng đoàn tình yêu, để bất cứ ai nhìn thấy như thế sẽ có thể nhận ra người môn đệ đích thực của Chúa: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con yêu thương nhau” (Ga 13,35).
10.
Làm ngôn sứ của Chúa trong tình hình hiện nay là thế đó. Phải rất tỉnh thức và tế nhị. Nhất là khi người ta đang mỏi mệt, thiếu thốn, thì người ngôn sứ nếu không làm gì được điều tốt cho họ, thì đừng làm cho họ phải khổ thêm. Ngôn sứ làm bổn phận với tất cả nhiệt tình. Còn kết quả thế nào thì xin dâng phó cho Chúa. Không nên đề cao mình và đừng bao giờ chê trách bên nọ kết án bên kia.
11.
Trong hồi tâm trước mặt Chúa, tôi  nhìn lại ba công việc Chúa đã trao cho tôi trong chuyến đi cuộc đời. Tôi thấy tôi chưa làm tốt, tôi yếu đuối lắm. Tôi xin Chúa thương tha thứ cho tôi. Và tôi cũng xin cộng đoàn tha thứ cho tôi.
Với chút nghị lực còn lại, tôi quyết tâm cố gắng không ngừng phấn đấu, để bước theo Chúa Giêsu, và lo những công việc Chúa trao, cho dù phải vác thập giá: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Thầy” (Mt 16,24). Nhưng tôi nhận mình rất yếu đuối, có nhiều giới hạn, nên tôi xin phó thác mình cho lòng thương xót Chúa. Tôi xin làm hết sức mình, còn kết quả ra sao, thì xin dâng phó trọn vẹn cho Chúa. Tôi chỉ là đầy tớ vô dụng.
Lạy Chúa, xin Chúa thương đến mọi người môn đệ Chúa đang lo những công việc của Chúa trên Quê Hương Việt Nam yêu dấu của con. Trách nhiệm của họ hiện nay là rất nặng nề.

ĐGM. GB. Bùi Tuần

Long Xuyên, 8 tháng 3 năm 2014.

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013

CẦU NGUYỆN MỘT CÁCH RIÊNG BIỆT

GM.GB. Bùi Tuần
1.
Ngày 8-7-2013 vừa qua, tôi hân hậnh nhận được lá thư của Quốc Vụ Khanh Toà Thánh đề ngày 24-6-2013.
Với nội dung thân tình, lá thư nói về Đức Thánh Cha Phanxicô có đoạn như sau: “Khi cuộc sống đã xế chiều, việc cầu nguyện một cách riêng biệt trở thành ‘sự duy  nhất cần thiết’ cho việc thánh hoá bản thân, và cho việc xây dựng thân thể Đức Kitô, là Hội Thánh”.
2.
Câu tâm sự trên đây đến với tôi rất đúng lúc. Bởi vì đời sống của tôi đang xế chiều. Tôi đang đi vào bóng đêm. Đêm nói đây không chỉ là sự xuống dốc của sức khoẻ, mà chủ yếu là  những cơn đau. Đau thân xác vẫn nhiều. Đau tâm hồn lại nhiều hơn. Đau xác khổ hồn làm nên những cơ cực, tự mình như muốn xa tránh và loại trừ mình.
Thêm vào những khổ đau của bản thân, lại gánh thêm những khổ đau của bao người khác. Một cách nào đó, khổ đau của Hội Thánh và của Quê Hương luôn dằn vật lương tâm tôi.
Cho dù có phần chủ quan, đau khổ nào cũng là một thực tại nặng nề.
Tôi không phải là đứng trước một đêm tối khủng khiếp, mà là đứng trong đêm hãi hùng. Tôi không trốn đâu được.
3.
Nhưng chính trong sâu thẳm hãi hùng đó đã phát sinh một đời sống đức tin đặc biệt.
Tôi tin Đấng có thể cứu chúng tôi là Chúa.
Với niềm tin ấy, tôi cầu xin Chúa thương cứu tôi, cứu những người khác, cứu Hội Thánh và cứu Quê Hương. Cầu nguyện của tôi là rất riêng biệt.
4.
Tôi nhận mình tội lỗi, yếu đuối, hèn hạ. Tôi năn nỉ. Tôi nài van. Tôi xin Chúa Thánh Thần thương cầu nguyện trong tôi và với tôi. Đôi khi tôi nại đến Lời Chúa để cầu xin với Chúa. Như: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa sẽ mở cho. Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, lại lấy con rắn thay vì cá mà cho nó? Hoặc nó xin trứng, mà lại cho nó con bọ cạp? Vậy, nếu anh em là những kẻ xấu, mà còn biết cho con cái những của tốt lành, phương chi Cha trên trời, Người sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ xin Người” (Lc 11,9-13).
5.
Và, thực sự, Chúa đã ban Thánh Thần cho tôi, khi Người gởi đến cho tôi những trái tim nhân ái. Họ cứu tôi bằng những việc cụ thể, quảng đại, và tế nhị. Qua tình thương của họ, tôi tin Nước Thiên Chúa đang đến với tôi, với những người thuộc về tôi, và đến với Quê Hương tôi. Chúa dùng họ để làm những phép lạ cứu tôi.
6.
Thế là, từ đức tin, việc cầu nguyện của tôi chuyển dần sang bác ái. Tôi cầu xin Chúa cho Hội Thánh của tôi được nhiều trái tim biết thương người theo gương Chúa Giêsu, Đấng đã làm chứng rằng: Chỉ tình yêu mới cứu được loài người. Một tình yêu dám chấp nhận hy sinh mình trên thánh giá.
Từ đó, cầu nguyện của tôi được xác định theo hướng đức tin phải được chứng minh bằng bác ái thương người.
- Thương người một cách cụ thể, như làm các việc thương người mà Chúa sẽ căn cứ vào để cho được đứng bên hữu Chúa trong ngày phán xét (x. Mt 25,31-40).
- Thương người một cách quảng đại, như người Samaritanô tốt lành, mà Chúa đã nêu gương cho những người tin Chúa (x. Lc 10,29-32).
- Thương người một cách ưu tiên, như dấu chỉ chính thức của người môn đệ Chúa Giêsu (x. Ga 13,36).
7.
Mới rồi, tôi được may mắn đọc thư mục vụ Mùa Chay 2012 của Đức Hồng Y Jorge Bergoglio, nay là Đức Giáo Hoàng Phanxicô, gởi cho Tổng giáo phận Buenos Airs, trong đó Ngài quả quyết: “Không là đức tin thực sự nếu đức tin ấy không được diễn tả ra tình yêu. Tình yêu không quảng đại và cụ thể, sẽ không là tình yêu Kitô hữu”.
8.
Như vậy, cái nhìn của người có đức tin phải là cái nhìn của tình yêu. Một tình yêu thương xót, biết kiên trì đi từng bước nhỏ. Một tình yêu đón nhận, biết kính trọng những khác biệt, để xây dựng tình nghĩa. Một tình yêu sáng tạo, biết biến đổi cái xấu thành cái tốt. Một tình yêu phân định, biết chọn cái nên làm, bỏ cái không nên làm tuỳ thời điểm.
Chính vì thế, mà cầu nguyện hằng ngày của tôi là xin Chúa giúp tôi chấn chỉnh lại cái nhìn về người khác.
Bỏ đi những cái nhìn kết án.
Bỏ đi những cái nhìn xoi bói.
Bỏ đi những cái nhìn dửng dưng.
Bỏ đi những cái nhìn đại gia, quý tộc như người phú hộ bị chúc dữ trong Phúc Âm (x. Lc 16,19-31).
Nhưng hãy có những cái nhìn dấn thân hơn cho Chúa trong mọi người thiếu thốn khổ đau, theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
9.
Đổi cái nhìn là rất khó. Có thể nói, đổi cái nhìn là đổi mới chính mình trở thành một tạo vật mới.
Việc đổi mới này không thể thực hiện được chỉ nhờ học hỏi các tài liệu, nhờ tham gia các khoá hội thảo, nhờ đưa ra những khẩu hiệu, những nghị quyết, những tuyên hứa. Nhưng nhất quyết phải nhờ ơn Chúa, qua hoán cải chính mình, qua tập luyện kiên trì, nhất là qua cầu nguyện.
10.
“Cầu nguyện một cách riêng biệt” đó là việc Đức Thánh Cha Phanxicô đang làm. Đó cũng là việc Toà Thánh gợi ý cho tôi.
Tôi đang cầu nguyện như một người già nua đau yếu.
Tôi đang cầu nguyện như một người tội lỗi sám hối trở về.
Tôi đang cầu nguyện như một trẻ nhỏ ngây thơ.
Tôi đang cầu nguyện như người kẻ trộm bị đóng đinh bên hữu Chúa.
Tôi đang cầu nguyện như một người sắp ra đi.
Tôi đang cầu nguyện cho Đức Thánh Cha và cùng với Đức Thánh Cha.
Tôi đang cầu nguyện rất nhiều cho các mục tử tại Quê Hương tôi biết đọc được ý Chúa trong các dấu chỉ của thời đại, để biết thương xót đoàn chiên một cách cụ thể và quảng đại, nhất là bớt cho con cái mình những gánh nặng không cần thiết trong tình hình khó khăn và phức tạp hiện nay.
Tôi cầu nguyện và xin mọi người cầu nguyện cho tôi.
Long Xuyên, ngày 10 tháng 7 năm 2013

Thứ Năm, 4 tháng 7, 2013

ĐÀO TẠO ĐỂ THEO ĐƯỜNG HƯỚNG MỤC VỤ CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

GM. GB. Bùi Tuần 
1.
Đức Thánh Cha Phanxicô đã nêu ra hướng mục vụ của Ngài, đó là mở ra về phía Chúa và về phía con người.
Hai hướng đó cần được thực hiện đi đôi với nhau.
Con đường mở ra là tình yêu.
Gương và sức mạnh mở ra là Chúa Giêsu.
2.
Trong bài diễn văn đọc trước Hội nghị Uỷ Ban Giáo Hoàng cho châu Mỹ Latinh, tại Roma, ngày 18-2-2009, Đức Jorge Bergoglio, sau này là Đức Giáo Hoàng Phanxicô, đã nhấn mạnh đến việc đào tạo linh mục. Đại ý như sau: Đào tạo này theo thánh Tôma và thánh Ambrosiô, là “Đức Kitô hình thành trong chúng ta, là chúng ta đón nhận được đức ái của Đức Kitô”.
Mục tử phải là người có kinh nghiệm sâu sắc về Thiên Chúa, theo khuôn mẫu của trái tim Chúa Giêsu. Họ luôn ngoan ngoãn với những tác động của Chúa Thánh Thần... Được như vậy, mục tử phải nuôi mình bằng Lời Chúa, Thánh Thể và cầu nguyện... Họ sẽ là mục tử thừa sai, biết bảo vệ đoàn chiên và đi tìm chiên lạc... Họ sẽ là những người phục vụ cuộc sống, biết để ý đến những nhu cầu của những kẻ yếu đuối... Họ sẽ là linh mục của lòng thương xót.
3.
Ngoài ra, đời sống thiêng liêng vừa kể còn sẽ được xây dựng bằng việc đào sâu thần học, triết học và Kinh Thánh. Tất cả đều mở ra về mầu nhiệm Chúa Giêsu, giúp chúng ta gắn bó với Chúa Giêsu, Đấng mà chúng ta tin cậy với tất cả con người, linh hồn, trí khôn, trái tim. Người sẽ ban cho chúng ta Thần Khí của Người, đưa chúng ta vào chân lý toàn diện.
Trong bài giảng thánh lễ mừng Quốc Khánh nước Achentina, ngày 25-5-2012 tại Nhà Thờ Chánh Toà Thủ Đô, Buenos Aires, Đức Hồng Y Jorge Bergoglio, quả quyết: “Chỉ tình yêu sẽ cứu được chúng ta”. Ngài nói về tình yêu của Chúa Giêsu.
4.
Điều đáng chú ý là Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến việc mục tử phải biết áp dụng tất cả đời sống thiêng liêng và học thuyết của mình vào thực tế.
Thực tế mà tác giả nhấn mạnh là cái tâm của nền văn hoá dân tộc mình. Cái tâm đó chính là sự khôn ngoan đạo đức tiềm ẩn trong lòng dân. Thí dụ sự kính trọng dành cho những gì là linh thiêng, sự hướng lòng mình về một Đấng Tối Cao có quyền thưởng phạt.
5.
Áp dụng vào thực tế như thế đòi một khả năng phân định. Người mục tử biết phân định, là giữa một tình hình hỗn độn, ngài biết giữ lại cái gì là tốt, biết đưa đàn chiên đến những nơi thực sự có cỏ xanh và nước sạch, biết bảo vệ đàn chiên khỏi những mục tử giả, những lái buôn.
6.
Qua những bài diễn văn của Đức Thánh Cha, tôi thấy hướng mở ra về phía Thiên Chúa đã rất rõ, hướng mở ra về phía con người cũng khá rõ.
Riêng hướng mở ra về phía con người được Đức Thánh Cha dần dần làm rõ thêm qua những trả lời báo chí phỏng vấn Ngài. Ngài nói là: Cần cổ võ cho một nền văn hoá của sự gặp gỡ. Trong cuốn “Tôi tin vào con người”, hai nhà báo được nói chuyện nhiều lần với Đức Jorge Bergoglio đã nhắc đi nhắc lại ý muốn của Đức Thánh Cha về sự phải coi gặp gỡ là mục vụ và văn hoá.
7.
Ngài nói về Đất Nước Achentina của Ngài rất là bè phái. Người ta thích nhấn mạnh đến những gì chia rẽ nhau hơn là những gì đoàn kết với nhau. Người ta thích cổ võ tranh chấp hơn là hoà hợp. Chỉ có văn hoá gặp gỡ mới đưa gia đình và dân tộc đi về phía tương lai tốt đẹp.
Nói về Hội Thánh tại Achentina, Ngài nói cơn cám dỗ lớn nhất là các linh mục trở thành nhà cai trị, chứ không còn là mục tử. Ngài than phiền: Nhiều người đến nhà xứ vì lý do bí tích hay việc nào đó, thì không được linh mục tiếp, mà là một bà thư ký tiếp, bà đó rất khó tính. Vấn đề thực là bà đó không phải chỉ làm cho người ta sợ và xa cha sở, mà còn làm cho người ta bỏ Hội Thánh và bỏ Chúa Giêsu.
8.
Vì thế, theo Đức Phanxicô, tân Phúc Âm hoá là hãy bắt đầu bằng gặp gỡ. Gặp gỡ thân tình.
Gặp gỡ thân tình còn là đi đến với con người. Phúc Âm nói: Mục tử nhân lành bỏ 99 con tốt, để đi tìm một con chiên lạc. Còn thực tế trong Hội Thánh chúng ta, thì xem như ngược lại.
Đức Thánh Cha coi mục vụ gặp gỡ và văn hoá gặp gỡ là rất quan trọng. Nhưng thực hiện được đến mức nào thôi vẫn chỉ là hy vọng.
Ngài coi việc thực hiện ý nguyện của Ngài là rất khó, như phải nhảy xuống sông trong đêm tối. Tuy nhiên, Ngài vẫn hy vọng, Ngài tin rằng: Về mặt nhân bản, nơi mỗi con người vẫn có những tiềm năng tốt. Về mặt đức tin, con người vẫn được Chúa thương bằng một tình yêu nhưng không đầy thương xót.
9.
Với một thoáng nhìn trên đây về Đức Thánh Cha Phanxicô, tôi thấy hướng mục vụ của Ngài giúp tôi thực thi một cách sâu sắc hơn hướng mục vụ của Hội đồng Giám Mục Việt Nam được tuyên bố trong thư mục vụ 1980 đó là: “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc”.
Thực thế, “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc” chính là hướng mở ra về phía Chúa và cũng mở ra về phía dân tộc.
Điều tôi thấy cần bắt chước Đức Thánh Cha, để thực thi đường hướng đó một cách sâu sắc hơn, đó là cố gắng nhiều hơn đến việc đào tạo đời sống thiêng liêng. Tôi thấy Đức Thánh Cha Phanxicô có một đời sống thiêng liêng rất sâu, rất mạnh, rất vững, đặc biệt là ở điểm khiêm nhường và yêu thương.
10.
Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến trách nhiệm phải cứu con người khỏi khổ, nhất là khỏi tội lỗi, cứu con người khỏi mất linh hồn, cứu con người khỏi sa hoả ngục.
Việc cứu khổ là cấp bách, đòi nhiều hy sinh. Chỉ có tình yêu mới cứu được. Tình yêu cứu độ là Chúa Giêsu. Các mục tử phải được đào tạo kỹ, để có tình yêu cứu độ từ Chúa Giêsu.
11.
Qua những gì Đức Thánh Cha dạy về đào tạo, tôi thấy cần xem xét lại việc đào tạo môn đệ Chúa tại Việt Nam hôm nay. Nhiều nơi, học nhiều mà đào tạo thì ít. Có nơi đào tạo chỉ là học thuộc mà thôi. Điều tôi cho là còn thiếu ở nhiều nơi đào tạo là đời sống thiêng liêng. Nhiều người đào tạo cũng nghèo đời sống thiêng liêng.
Ít là chúng ta khiêm tốn nhận thức được là đào tạo nơi chúng ta còn thiếu sót nhiều, thì đó cũng là một khởi đầu tốt.
Đêm 27-6 vừa qua, lúc 3 giờ 30, tôi mở đài truyền hình, chợt thấy một phim đang nói về các tôn giáo lớn ở Việt Nam.
Riêng về Phật giáo, phim chiếu cảnh chùa chiền đào tạo các thanh thiếu niên về đời sống đạo, đặc biệt là về mặt linh thiêng. Điều làm tôi chú ý nhất là các thanh thiếu niên được hướng dẫn và tập luyện một cách tỉ mỉ về lối sống tu thân, từ cách ăn mặc, đến việc ăn uống, đi đứng, nói năng, chay tịnh, khó nghèo, thinh lặng, từ bỏ mình, cầu nguyện, và phục vụ người khác.
Cảnh đào tạo đó gợi ý nhiều cho tôi về việc đào tạo các mục tử mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói về Công giáo.
Phải chăng Chúa muốn chúng ta hãy nhìn sang các tôn giáo bạn tại Việt Nam hôm nay, để càng phải mau chấn chỉnh lại việc đào tạo mình.
Long Xuyên, ngày 01 tháng 7 năm 2013

CHÚT TÂM TÌNH NHÂN KỶ NIỆM THỤ PHONG LINH MỤC

GM. GB. Bùi Tuần

1.
Ngày 02.7.2013 này, tôi được 58 tuổi Linh mục. Kỷ niệm thụ phong linh mục thúc giục tôi tỏ bày tấm lòng biết ơn đối với Chúa.
Tôi biết ơn Chúa, nhất là vì suốt 58 năm qua, Chúa luôn ở trong tôi và luôn ở trong cuộc đời của tôi. Tôi nhận ra hồng ân đó, nhờ những dấu ấn ghi trên đời tôi.
Thực vậy, Chúa đã ban cho tôi vô vàn ơn, tôi chỉ xin được nhắc qua mấy ơn sau đây.
2.
Tôi nhận thấy rất rõ, tôi chỉ là kẻ tội lỗi, yếu hèn. Tôi mang trong mình tội riêng của mình, thêm vào đó là tội chung của những tập thể và những cơ chế mà tôi là thành phần.
Tôi rất cần được cứu.
3.
Tôi cảm thấy rất rõ những khổ đau của phần đông đồng bào tôi. Họ khổ, tôi cũng khổ. Họ đau, tôi cũng đau. Có thể tôi còn khổ đau hơn họ, vì tôi thấy họ không nhận thức đủ những nguy hiểm đang vây hãm họ, và những khống chế đang đẩy họ vào hố diệt vong.
Họ rất cần được cứu.
4.
Tôi cảm thấy rất rõ những sai lầm của Hội Thánh về mặt cơ chế và về mặt nhân loại trong nhiều thành phần. Những sai lầm đó nhiều khi đã trở thành khuôn cứng nhắc, cản sự đổi mới của Chúa.
Hội Thánh rất cần được cứu.
5.
Tôi tin chắc chắn điều này: Đấng cứu độ chính là Chúa Giêsu, Người cứu bằng tình yêu của Người. Một tình yêu chấp nhận hoà mình vào thân phận khổ đau của những người đau khổ nhất. Một tình yêu tha thứ. Một tình yêu hy sinh, hiến dâng chính mình chịu mọi nhục nhã đớn đau, để đền tội thay, để cứu chuộc nhân loại.
6.
Tôi tin vững vàng: Chúa Giêsu cứu chuộc chúng ta, nhưng chúng ta cần phải đón nhận ơn Người cứu chuộc.
Chúng ta đón nhận được ơn Chúa cứu chuộc, nhờ tin ở Người và bước theo Người.
7.
Bước theo Chúa Giêsu, tôi thấy 58 năm qua, Chúa đã dạy tôi không những bằng Kinh Thánh và gương các thánh, mà còn dạy tôi qua các biến cố xảy ra cho riêng tôi, nhất là xảy ra cho Quê Hương Việt Nam, và cho Hội Thánh trên Quê Hương của tôi.
Quá nhiều biến cố chứng minh những gì không xây dựng trên Lời Chúa đều đã sụp đổ tan tành.
Quá nhiều biến cố đã chứng minh những ai không đón nhận tình yêu Chúa đều đã sa vào lưới của Satan độc ác.
8.
Bước theo Chúa Giêsu, tôi thấy tôi không tránh được nhiều quãng đời khó khăn hiểm trở. Nhưng Chúa vẫn bên cạnh tôi, như Người đã bên cạnh hai môn đệ Chúa trên đường Emmau (x. Lc 24,13-35).
9.
Bước theo Chúa Giêsu, tôi thấy tôi thực sự được bình an và tự do, khi tôi theo gương Người, mà tha thứ. “Lạy Cha, xin Cha tha cho họ, vì họ lầm không biết việc họ làm” (Lc 23,34).

10.
Bước theo Chúa Giêsu, tôi thấy tôi thực sự được hiện diện giữa những người bị loại trừ, khi tôi giống như Người, bị đóng đinh giữa hai phạm nhân bị án tử hình (x. Lc, 23,33).
11.
Bước theo Chúa Giêsu, tôi thấy Chúa chỉ muốn tôi lo mến Chúa hết lòng, và yêu thương mọi người, như Chúa yêu thương, rồi phó thác mình cho Chúa “Lạy Cha, con xin phó thác mình con trong tay Cha” (Lc 23,46). Chứ mến Chúa và thương người, mà lại khôn khéo quy chiếu mọi việc mình làm về việc lên chức, giữ chức, bảo vệ quyền lợi cho mình, thì đúng là trái tim đã chết từ lâu rồi.
12.
Bước theo Chúa Giêsu, tôi thấy lịch sử Đất Nước tôi và lịch sử Hội Thánh trên Đất Nước tôi, tuy dù có những bóng tối, nhưng vẫn có những luồng sáng hy vọng.
Bởi vì vẫn có những người biết nhận ra sự cần thiết phải đổi mới bản thân và cơ chế. Đổi mới dựa trên nền tảng tình yêu. Đổi mới với sự trở về những giá trị thiêng liêng. Đổi mới bằng những việc bắt đầu và bắt đầu lại. Đổi mới nhất là bằng sự chấp nhận mầu nhiệm thánh giá: Qua thánh giá mới có Phục Sinh.
13.
Hôm nay, nhìn lại 58 năm bước theo Chúa Giêsu, tôi thấy tôi mắc nợ với Chúa, mắc nợ với Quê Hương của tôi, mắc nợ với Hội Thánh của tôi, mắc nợ với biết bao ân nhân xa gần.
Có những nợ sẽ chẳng bao giờ trả đủ. Đó là nợ tình thương. Nhưng chính vì không bao giờ sẽ trả đủ, nên càng thêm gắn bó. Gắn bó ở đời này và ở đời sau. Trong thinh lặng lắng nghe. Trong thinh lặng cầu nguyện. Trong thinh lặng hiến dâng.
Long Xuyên, ngày 01 tháng 7 năm 2013

CHA ƠI! SAO CHA NỠ BỎ CON

GM. GB. Bùi Tuần
1.
Nhiều năm trước đây, khi cầu nguyện trước Trái Tim Chúa Giêsu và Trái tim Đức Mẹ, tôi thường nhìn Hai Trái Tim cực thánh ấy như suối nguồn tình yêu. Tôi tin tình yêu ấy rất ngọt ngào, dịu dàng. Tôi cầu xin Hai Trái Tim cực thánh ban cho tôi chút quà của tình yêu ấy. Kết quả là tôi đã nhiều lần được nếm sự ngọt ngào, dịu dàng của tình yêu ấy.
2.
Nhưng rồi, không luôn mãi như vậy. Bởi vì, càng về già, tôi càng được Hai Trái Tim cực thánh ban cho tôi thêm một thứ quà khác của tình yêu, đó là những đau khổ, để thanh luyện.
Đúng là tôi vẫn đến với Hai Trái Tim rất thương mến, mà tôi cậy tin. Tôi cầu xin tha thiết. Nhưng như một trả lời, có lúc tôi lại nhận được một nguồn đớn đau tê tái.
Nỗi đau như một cái gì cùng cực. Nếu muốn tả nỗi đau ấy, tôi chỉ xin mượn Phúc Âm.
Trong vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu nói: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mc 14,34).
“Người lâm cơn xao xuyến bồi hồi, nên càng khẩn thiết cầu xin. Và mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất” (Lc 22,44).
“Người sấp mặt xuống đất, cầu nguyện rằng: Cha ơi, nếu được, xin Cha cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39).
“Vào giờ thứ 9, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: Êlôi, Êlôi, Lamaxabactani! Nghĩa là: Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Cha nỡ bỏ con” (Lc 15,34).
3.
Như vậy, Thánh Tâm Chúa Giêsu, vì yêu thương, đã chấp nhận trải qua những cơn đau khủng khiếp. Thánh Tâm đầy lửa yêu thương đã trở thành vực thẳm đầy đau khổ. Những đau khổ đó rất nặng nề. Tôi được cảm thấy phần nào.
Chúa cho tôi hiểu thế này.
Nguyên do khiến tình yêu Chúa Giêsu phải đau khổ là vì:
Người nhìn thấy con cái Chúa không chịu nghe Lời Chúa, mà lại nghe ma quỷ, thế gian, xác thịt.
Nghe theo chúng làm những sự xấu, để rồi bị chúng trói buộc vào quyền lực độc ác của chúng dẫn vào con đường hư hỏng, đi vào hoả ngục.
Để cứu loài người, Chúa Giêsu tình nguyện chịu đau khổ, để đền tội thay. Đau khổ rất nhiều, nhưng biết bao người rồi vẫn cứ tiếp tục phạm tội, cứ tiếp tục nghe quỷ, thế gian, xác thịt hơn nghe Chúa. Cứ vậy, tội lỗi dẫn vào mọi thứ hình phạt ở đời này và ở đời sau. Cảnh tượng đó rất là thê thảm, khiến Chúa Giêsu đau đớn.
4.
Để tiếp tục cứu loài người lầm lạc, Chúa Giêsu không những xin gánh mọi hình phạt của loài người, để đền tội thay, mà cũng xin nhiều con cái Chúa hãy chia sẻ với Người. Đức Mẹ đã chia sẻ một cách quảng đại. Nhiều người, cũng đi theo gương Đức Mẹ. Nay, đến lượt một số người, trong đó có tôi đang được Chúa gọi đi theo trên con đường chia sẻ khổ đau.
5.
Khi được nếm phần nào nỗi khổ của Trái Tim Chúa, tôi hiểu rõ hơn những tai hại khủng khiếp do tội gây nên, nhất là tội không chịu nghe Lời Chúa. Hiện nay, tội không nghe Lời Chúa đang trở thành phổ biến khắp nơi. Nếu cứ thế này, những tai hoạ khủng khiếp sẽ phải xảy ra. Nguy hiểm đáng sợ nhất là hình phạt ở đời sau.
Tôi nhớ tới những gì Đức Mẹ đã tiên báo ở Fatima. Tôi nhớ tới cảnh Đức Mẹ hiện ra khóc ở La Salette. Tôi xin Đức Mẹ thương giúp tôi biết đón nhận những đau khổ, để góp phần nhỏ bé vào việc đền tội riêng mình và nhiều người khác, hy vọng sẽ tránh cho Hội Thánh và Đất Nước khỏi những tai hoạ khủng khiếp.
6.
Đau khổ thường gây nên tan nát và cô đơn trong lòng. Nhưng tôi tin trong đau khổ của tình yêu luôn có Chúa. Chúa ở đó, để đỡ nâng. Nhất là Người đỡ nâng lòng cậy trông của tôi. Cậy trông vững vàng. Cậy trông dù hoàn cảnh trở thành bi đát nhất. Cậy trông, để đau khổ tôi chịu có một ý nghĩa thiêng liêng cao quý.
7.
Tôi có kinh nghiệm là khi tôi bị thử thách trong đau khổ, Đức Mẹ luôn ở bên tôi. Mỗi khi tôi than van với Chúa: “Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con”, tôi lại thấy Đức Mẹ ôm lấy tôi. Tình Mẹ biến lời than van của tôi thành một lời cầu nguyện. Tôi như một trẻ nhỏ. Với Mẹ, tôi tin mọi sự rồi sẽ tốt đẹp quá sự tưởng tượng của tôi. Bởi vì Chúa là Cha của tôi. Tôi nhớ tới mầu nhiệm thánh giá dẫn tới Phục sinh.
Do vậy, tôi thấy đau khổ hôm nay không là tiếng nói sau cùng. Tiếng nói sau cùng sẽ là sự sống lại.
Tôi cũng thấy sự thắng thế của tội ác không là tiếng nói sau cùng. Tiếng nói sau cùng sẽ là tiếng nói của tình yêu thương xót Chúa.
Thấy như vậy và tin như vậy, tôi sẽ có một hướng đi thích hợp cho tu đức, mục vụ, nhất là trong lãnh vực làm chứng cho Chúa.
8.
Khi cầu nguyện, tôi hay thấy Chúa Giêsu quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Người rất khiêm nhường. Người rất yêu thương. Người rất gần gũi. Tôi cảm thấy Người rửa, Người lau cõi lòng của tôi. Tôi cảm thấy nhẹ nhàng, đầy tin tưởng cậy trông, mặc dầu tôi rất tội lỗi.
Cùng với lòng tin tưởng cậy trông, tôi được Đức Mẹ dạy tôi là hãy rất nghèo, thực sự nghèo, trong mọi phương diện. Có thế, mới thực sự được thuộc về Chúa Giêsu. Có thế, mới thực sự được Chúa Giêsu dùng trong chương trình cứu chuộc của Chúa.
Nghèo thì khổ. Nghèo thì hèn. Cái khổ và cái hèn của kẻ nghèo khổ đau được tôi cảm thấy một cách thấm thía, như một sự loại trừ, xa tránh. Tôi biết tôi đáng bị như thế. Nhưng tại sao thân phận như thế lại đã xảy ra cho chính Chúa Giêsu xưa? Tôi hiểu con đường Chúa đi, để cứu chuộc loài người, là con đường thánh giá. Tôi xin Chúa cầm tay tôi mà dắt dìu tôi đi theo con đường đó.
Lạy Chúa, con đường thánh giá của Hội Thánh tại Quê Hương con sắp tới những chặng bất ngờ. Con tin những đau đớn bất ngờ sẽ làm chúng con thức tỉnh biết nghe Lời Chúa hơn. Xin Chúa thương xót chúng con.
Long Xuyên, ngày 9 tháng 6 năm 2013