Hiển thị các bài đăng có nhãn Suy Niệm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Suy Niệm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015

MỘT CHÚT TÂM SỰ VỀ ĐỜI LINH MỤC CỦA TÔI


Thánh lễ tạ ơn,
 kỉ niệm 60 năm thụ phong linh mục
MỘT CHÚT TÂM SỰ VỀ ĐỜI LINH MỤC CỦA TÔI


Tôi được thụ phong linh mục ngày 2-7-1955 tại Hồng Kông.
Nhìn lại 60 năm linh mục của tôi, tôi thấy Chúa đã thương tôi một cách đặc biệt.
Một trong những dấu chỉ về tình thương rất đặc biệt đó là sự tôi luôn gắn bó mật thiết với Chúa, với Hội Thánh, với Quê Hương và với cộng đoàn.
Sự gắn bó mật thiết ấy được nuôi dưỡng hằng ngày một cách đơn sơ. Tôi xin phép được tâm sự chân thành về cách đó.
Thưa cách đơn sơ đó là sám hối với kinh cáo mình. Hiện nay đó là kinh “Tôi thú nhận”.
Mỗi khi đọc kinh “Tôi thú nhận”, tôi cảm thấy mình trở thành bé nhỏ và yếu đuối bên cạnh Chúa, bé nhỏ và yếu đuối trong Hội Thánh, giữa gia đình xã hội và cộng đoàn. Tôi biết là mình cần được cứu.
Chính sự cảm nhận mình nhỏ bé và yếu đuối ấy đã giúp tôi đón nhận thêm sự tha thứ, niềm tin và tình thương cũng như sự khiêm nhường và bao dung từ Chúa là Cha. Nhờ vậy tôi được bình an. Tôi cảm thấy sám hối là một hạnh phúc.
Trong tâm tình đó, tôi thường thưa với Chúa: “Lạy Chúa, con đây, con thú nhận con là kẻ tội lỗi yếu đuối, nhưng con xin vâng, vì Chúa đã gọi con và Chúa đã sai con đi. Con xin phó thác trọn vẹn nơi Chúa”.
Vì thế, đời linh mục của tôi là một thánh lễ tạ ơn kéo dài, trong đó, kinh “Tôi thú nhận” đã góp một phần lớn, để tôi biết mến Chúa và biết yêu thương phục vụ mọi người.
Tâm sự của tôi hôm nay chỉ vắn tắt nhìn vào sám hối. Kinh “Tôi thú nhận” luôn đổi mới tôi. Kinh “Tôi thú nhận” luôn giúp tôi trở về. Kinh “Tôi thú nhận” luôn giúp tôi nhận ra tình yêu thương xót Chúa. Xin anh chị em cùng tôi cảm tạ Chúa. Xin hết lòng cám ơn mọi người đã dạy tôi sám hối. Xin thương cầu nguyện cho tôi.
Long Xuyên, 2-7-2015
GM. GB. Bùi Tuần

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2015

TIẾNG GỌI CỦA THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU: "TA KHÁT"

TIẾNG GỌI CỦA THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU:
“TA KHÁT”
      1.  
Có những ngày, hơn bao giờ hết, tôi cảm thấy mình khốn khổ khác thường. Thân xác đau, tâm hồn đau. Những cơn đau dài đẩy tôi vào một cõi cô đơn, sợ hãi, tối tăm, như hấp hối bên bờ vực thẳm.
Tôi chạy đến bên Đức Mẹ. Mẹ nhân lành dắt tôi đến Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá. Mẹ dạy tôi hãy đặt những nỗi đau của tôi dưới chân thánh giá Chúa. Tôi xin vâng. Trong tĩnh lặng, tôi cảm thấy những nỗi đau của tôi dần dần biến thành một sự khao khát Chúa. Đến một lúc bất ngờ, sự tôi khao khát Chúa đã mở lòng tôi ra.
2.
Tôi như nghe được tiếng Chúa Giêsu đã kêu lên xưa trên thánh giá: “Cha khát”. Tôi hiểu Chúa khát tôi hãy đón nhận tình yêu cứu độ của Chúa Cha, qua sự Người đang vâng phục Chúa Cha mà hy sinh mình trên thánh giá, để cứu nhân loại.
Với nhận thức sâu xa về sự bần cùng của mình, tôi mở lòng ra để đón nhận tình yêu cứu độ ấy của Chúa dành cho tôi.
3.
Một hậu quả rất rõ ràng sinh ra trong tôi, khi tình yêu cứu độ Chúa tràn vào lòng tôi, đó là tôi cảm thấy sự khát khao Chúa trở nên mỗi lúc mỗi mạnh hơn, nhất là trở nên mỗi lúc mỗi cụ thể hơn ở sự khao khát tình yêu Chúa: Yêu mến Chúa là lẽ sống đời tôi.
4.
Khi tình yêu Chúa như ngấm sâu vào tôi, tôi được Chúa cho thấy tôi phải cố gắng thực thi hai điều này:
Một là hãy bắt chước Chúa Giêsu, luôn vâng phục thánh ý Chúa Cha.
Hai là hãy bắt chước Chúa Giêsu luôn sẵn sàng hy sinh để cứu các linh hồn.
5.
Vâng phục thánh ý Chúa Cha một cách tuyệt đối, đó là điều Chúa Giêsu luôn nhắc cho tôi. Tôi nhớ lại lời Kinh Thánh viết: “Khi vào trần gian, Đức Kitô nói: Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Chúa, như Sách Thánh đã chép về con” (Dt 10,5-7).
6.
“Này con xin đến, để thực thi ý Cha”. Mà ý Cha là Ngài phải chịu nhiều hy sinh.
Hy sinh của Chúa Giêsu là vượt qua biên giới vinh quang của Thiên Chúa, mà xuống làm người:
“Đức Giêsu Kitô,
Vốn dĩ là Thiên Chúa,
Mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,6-7).
Hy sinh của Chúa Giêsu còn là vượt qua biên giới được tự do sống, mà bước xuống thân phận kẻ bị tử hình:
“Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,8).
7.
Xin thú thức là luôn vâng phục thánh ý Chúa Cha và luôn luôn hy sinh, đó là một thực tế cam go trong đời tôi. Đời tôi do vậy đã trở thành một cuộc hành hương trong chiến đấu không ngừng. Chiến đấu nhất là trong chính nội tâm mình. Chiến đấu không đổ máu, nhưng là một từ bỏ có khi còn hơn là đổ máu.
Nhưng, tôi tin sự tôi chịu hy sinh để vâng thánh ý Chúa Cha, hầu góp phần vào việc cứu rỗi các linh hồn, sẽ là con đường dẫn tôi về hưởng vinh quang của Chúa Giêsu. “Nào, Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” (Lc 24,26).
8.
Tới đây Chúa cho tôi nhìn vào Hội Thánh Chúa tại Việt Nam hôm nay. Tôi đang nhận ra rất nhiều người con Chúa đang đi vào vinh quang của Chúa Giêsu, từ những hy sinh họ chịu do vâng phục thánh ý Chúa.
Một trong lãnh vực thực tế mà họ chịu hy sinh thường ngày nhiều nất là lãnh vực phục vụ người nghèo. Lãnh vực thực tế đó hiện nay rất rộng và rất phức tạp.
9.
Theo tinh thần Công đồng Vatican II, họ nhận mình có trách nhiệm với lịch sử Đất Nước; nhất là với những anh chị em nghèo khổ của họ trên Quê Hương này.
Trách nhiệm của họ đối với những người anh chị em nghèo khổ cũng sẽ là trách nhiệm ngăn cản sự sụp đổ của Đất Nước họ.
Không phải chỉ tiền bạc, đất đai, của cải là những phần họ phải nghĩ đến khi lo cho người nghèo, mà còn là văn hoá chứa đựng những chân lý và các giá trị thiêng liêng có sức cứu độ họ.
10.
Hơn mọi ngày thường, họ nghe được tiếng “Cha khát” của Thánh Tâm Chúa Giêsu đang ưu tiên hướng về những người nghèo khổ.
Chúa khát khao có được những người dấn thân đem tình yêu cứu độ của Chúa đến cho những người nghèo khổ.
11.
Chúa khát khao các nơi đào tạo những người truyền giáo hãy mạnh dạn và khiêm tốn coi việc lo cho người nghèo khổ là một trách nhiệm ưu tiên Chúa trao cho mình. Thực hiện tốt trách nhiệm đó chính là tân Phúc Âm hoá, rất cần cho thời điểm này tại Việt Nam hôm nay.
12.
Chúa khát khao mọi người thờ phượng Chúa hãy ưu tiên coi việc lo cho người nghèo khổ được cứu độ chính là cách “thờ phượng Chúa Cha trong tinh thần và trong chân lý” (Ga 4,24).

Lạy Chúa Giêsu, con xin tạ ơn Chúa đã thương cho con nghe được tiếng “Cha khát” từ Trái Tim Chúa. Xin tiếp tục thương giúp con biết đáp lại tiếng Chúa gọi, bằng việc làm tốt mọi việc thường ngày, dù rất nhỏ và rất âm thầm.
GM.GB. Bùi Tuần

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2015

NHỜ MẸ DÂNG HOA LÊN CHÚA

NHỜ MẸ  
DÂNG HOA LÊN CHÚA

1.
Trong 12 tháng, thì tháng Năm được Hội Thánh Việt Nam gọi là tháng dâng hoa kính Đức Mẹ. Hoa dâng kính Đức Mẹ thường được hiểu là hoa tự nhiên trồng ở vườn, mua từ chợ. Bên canh hoa tự nhiên mang nhiều màu sắc và hương thơm, chúng ta còn dâng lên Mẹ những hoa thiêng liêng trồng ở tấm lòng riêng tư của mỗi người chúng ta.
Riêng đối với tôi, những hoa quan trọng nhất tôi dâng lên Mẹ, đều là những hoa thiêng liêng. Nói cho đúng, những hoa thiêng liêng này đều do chính Đức Mẹ đã giúp tôi trồng trong trái tim tôi, để rồi tôi lại hái dâng lên Mẹ, và nhờ Mẹ dâng lên Chúa.
2.
Hôm nay, tôi ôm vào lòng một bông hoa tôi cho là rất quý, mà chính Mẹ giúp tôi trồng trong sâu thẳm hồn tôi. Mẹ bảo tôi hãy dâng hoa đó lên Chúa nhân lành. Chúa đã thương nhận. Người dạy tôi hãy kể ra cho cộng đoàn biết chút ít về bông hoa đó, vì nó là công trình của Mẹ. Tên bông hoa đó là niềm tin vào tình yêu đầy xót thương của Thiên Chúa.
3. Tôi xin vắn tắt.
Ngay từ rất nhỏ, tôi đã được cha mẹ dâng tôi cho Đức Mẹ. Đọc kinh Mân Côi đã sớm trở thành thói quen tôi dùng để gặp gỡ Đức Mẹ. Mỗi ngày nhiều lần, sự gặp gỡ Đức Mẹ bằng kinh Mân Côi đã gieo vào lòng tôi những tâm tình về đức tin. Tôi tin Chúa theo kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng và kinh Sáng Danh. Dần dần, tôi nhận ra Chúa là tình yêu. Rồi, đến một lúc, tôi nhận ra tình yêu Chúa là tình yêu đầy lòng thương xót.
Phải nói là, Đức Mẹ cho tôi nhận ra trước, rồi sau đó là tin tất cả những gì về tình yêu Chúa giàu lòng xót thương.
4.
Tôi nhận ra Chúa thương yêu tôi, qua những gì đã xảy ra trong đời tôi. Đời tôi là một hành trình. Chuyến đi đời tôi gặp nhiều trắc trở. Có những trường hợp tưởng là chắc chắn tôi sẽ rơi xuống hố diệt vong. Nhưng đến phút chót, tôi đã được Chúa cứu. Tôi nhận ra tôi được cứu hoàn toàn nhờ Chúa và do Chúa. Do vậy, tôi nhận ra Chúa là tình yêu cứu độ.
Tình yêu ấy Chúa dành cho tôi một cách nhưng không, một cách bất ngờ, một cách quá sức tưởng tượng. Tôi chỉ biết gọi Chúa là tình yêu, đúng như thánh Gioan tông đồ  đã viết: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,16).
5.
Chúa yêu tôi, trước khi tôi yêu Chúa. Không những thế, Chúa còn yêu tôi, khi tôi còn trong tội lỗi, hư hỏng, đê hèn, đáng phải trừng phạt. Qua đó, tôi nhận ra Chúa giàu lòng thương xót. Nhận ra qua những bằng chứng sống động. Cảm thấy bằng những xúc cảm không thể nào quên. Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót, là điều bản thân tôi đã nhận ra, đã cảm nghiệm, là điều đã đóng ấn sâu trên đời tôi. Tôi đã nhận ra và đã tin. Như thánh Gioan đã viết:
“Tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian, để nhờ Con Một của Người, mà chúng ta được sống.
“Tình yêu cốt ở điều này: Không phải chúng ta đã yemé Thiên Chúa trước, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4,9-10).
“Chúng ta đã nhận biết tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta, và chúng ta đã tin vào tình yêu đó. Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,16).
6.
Tôi đã nhận ra và đã tin Thiên Chúa là tình yêu thương xót. Sự nhận ra và sự tin như thế đã nâng đỡ tôi rất nhiều trong chức vụ linh mục và Giám mục. Nhất là khi mọi lãnh nhận các chức vụ trong Hội Thánh đều hoàn toàn do được sai đi, chứ không do tự mình tôi chọn lấy cho mình.
Được Chúa sai đi, và nhận lãnh sự sai đi chỉ vì vâng phục ý Chúa, nhất là trong những tình hình phức tạp khó khăn, đó là tâm trạng đòi nhiều phó thác. Sự phó thác đó nơi tôi đã được đỡ nâng bằng sự nhận ra và tin mình được Chúa yêu thương đầy thương xót.
7.
Khi được nhận ra và được tin vào tình yêu đầy xót thương của Chúa, tôi tự nhiên ham thích cầu nguyện. Tôi theo gương Mẹ.
Có thể nói: Sự ham thích cầu nguyện nơi tôi là do ơn Chúa. Chính Chúa làm cho linh hồn tôi ngoan ngoãn đặt mình dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, để cầu nguyện với Chúa một cách khiêm nhường và cậy trông.
Cầu nguyện nơi tôi là sự gặp gỡ với Chúa, là sự trao đổi giữa tình yêu Chúa và sự hèn hạ khốn khổ của tôi.
Cầu nguyện nơi tôi không hệ tại ở sự suy nghĩ nhiều, mà ở tại sự yêu mến nhiều.
Cầu nguyện nơi tôi là một việc đơn sơ, hồn nhiên. Bắt đầu cầu nguyện, tôi hay nhìn Chúa Giêsu và học ở Người điều mà chính Người đã phán: “Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29). Rồi tôi nhận được sự bình an, như Người đã hứa: “Tâm hồn các con sẽ được bình an” (Mt 11,29).
8.
Kh cầu nguyện, tôi xác tín mình rất hèn mọn, khó nghèo, tội lỗi, xấu xa, rất cần đến lòng thương xót Chúa. Tôi tin Chúa xót thương tôi, chính vì tôi là như thế. Và vì tôi chính là kẻ khó nghèo, tội lỗi, nên tôi tự nhiên không dám mơ ước đến những sự lớn lao, như hãm mình khắc khổ lớn, trở thành ánh sáng lớn, làm những việc lành lớn.
9.
Trở thành bé nhỏ, đó là một cách tôi thuộc về Chúa Giêsu. Đấng mà tôi tin luôn yêu tôi với tình xót thương vô bờ.
Trở thành bé nhỏ như thế luôn đi kèm với sự cậy trông. Chính ở đây tôi hiểu lời thphl đã nói: “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,10).
10.
Những gì tôi vừa vắn tắt chia sẻ trên đây là rất chân thành. Đó là bông hoa thiêng tôi dâng lên Mẹ, và nhờ Mẹ, dâng lên Chúa.
Tôi tin rằng: Tại Việt Nam hôm nay đang có nhiều bông hoa thiêng liêng dâng lên Mẹ, và nhờ Mẹ dâng lên Chúa. Những bông hoa thiêng liêng đó có thể khác nhau. Nhưng tất cả đều muốn làm chứng về Thiên Chúa.
Tuy nhiên, hơn bao giờ hết, người thời nay cảm thấy mình được thu hút bởi dung mạo Thiên Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót, hơn là bởi bất cứ dung mạo nào. Do vậy, mà việc làm chứng cho Thiên Chúa giàu tình yêu thương xót rất cần được thực hiện do chính ơn Chúa, một cách khiêm nhường vâng phục, để có sức dấn thân phục vụ theo đúng ý Chúa.

Long Xuyên, ngày 3.5.2015.

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2015

CHÚA PHỤC SINH ĐẾN VỚI TÔI

CHÚA PHỤC SINH ĐẾN VỚI TÔI
  
1.
Mới rồi, một biến cố đã xảy đến cho tôi. Biến cố riêng tư, tuy nhỏ, nhưng đang ảnh hưởng lớn đến đời tôi. Tôi xin được phép chia sẻ.
Sau một ngày được đọc và được nghe kể về những cuộc lễ tạ ơn trọng thể đó đây, trong đó đề cao những thành tích lẫy lừng nhiều mặt, tôi cảm thấy như có một sự giới thiệu về Ơn Phục Sinh tại những nơi ấy.
Đêm đến, tôi lên giường, muốn ngủ mà không ngủ được. Tôi cầu nguyện. Thế rồi, tôi đi vào một giấc mơ. Tôi thấy Chúa Giêsu Phục Sinh đến với tôi. Một cảm giác rất mạnh bừng lên trong tôi, làm tôi sung sướng và bình an lạ thường, đó là thấy Chúa Phục Sinh rất hiền lành, rất khiêm nhường, rất xót thương. Người nhìn tôi, mà không nói gì. Tôi nhìn Người, cũng không nói được gì. Đột nhiên, tôi bật khóc và tôi thức.
2.
Khi tỉnh dậy, tôi cảm thấy lòng tôi tràn trề niềm vui. Tôi thấy cái nhìn của Chúa Phục Sinh đã đổi mới tôi một cách sâu xa và mạnh mẽ. Tôi chỉ xin kể ra đây vắn tắt bốn soi sáng tôi nhận được. Soi sáng nào cũng là chân lý cứu độ tôi. Soi sáng nào cũng làm cho tôi được phục sinh.
3.
Soi sáng thứ nhất mở lòng trí tôi ra, là để tôi nhận biết tôi là kẻ tội lỗi.
Trong giây lát, cái nhìn của Chúa Phục Sinh cho tôi thấy quá khứ của tôi đầy những tội lỗi, hiện tại của tôi đầy những yếu đuối, tương lai của tôi đầy những điều phải đổi mới.
Tôi nhớ lại dụ ngôn “Người Pharisêu và người thu thuế” (Lc 18,9-14). Người Pharisêu khi cầu nguyện, đã hết lòng cảm tạ Chúa về bao việc đạo đức mình đã làm. Còn người thu thuế, khi cầu nguyện, thì hết lòng xin Chúa thương xót, vì nhận mình chỉ là kẻ tội lỗi. Chúa Phục Sinh soi sáng cho tôi thấy: Tôi hãy nhận mình là kẻ tội lỗi. Đó là sự thực. Tôi nhận rõ sự thực đó. Tôi sám hối. Tôi nhìn Chúa đang nhìn tôi. Tự nhiên tôi bật khóc.
4.
Soi sáng thứ hai mở lòng trí tôi ra, là để tôi nhận biết bất cứ tội nào của tôi cũng đều gây đau đớn cho chính Chúa Giêsu.
Cái nhìn của Chúa Phục Sinh đưa lòng trí tôi đến thánh giá. Tôi nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên đó. Người mang hình ảnh khủng khiếp của một tội nhân. Người chịu như vậy vì tội lỗi của tôi và của muôn người. Tội lỗi của tôi đã làm cho Người phải khổ. Tôi nhớ lại những lúc trước đây tôi dửng dưng trước đau khổ của Chúa Giêsu trên thánh giá. Người quá đau khổ vì tội lỗi tôi. Tôi nhận ra là sự dửng dưng đó của tôi đã làm cho Chúa bị đau khổ thêm. Tôi hối hận vô vàn. Tôi khóc.
5.
Soi sáng thứ ba mở lòng trí tôi ra, là để tôi nhận biết sự tha thứ Chúa dành cho tôi là do lòng thương xót Chúa.
Tôi nhớ lại dụ ngôn “Người cha nhân hậu” (Lc 15,11-32). Người cha này đã đối xử với người con phung phá trở về một cách xót thương quá sức tưởng tượng. Người cha ấy đã tha thứ, đã ôm lấy con, chỉ vì tình yêu xót thương. Hình ảnh người cha tha thứ đó dạy tôi, khi sám hối, phải nhìn vào Chúa là Cha, để đón nhận sự thứ tha. Chứ đừng đón nhận ơn tha thứ, chỉ từ các nghi thức. Các nghi thức sám hối, để ban ơn tha thứ, nếu chỉ nhấn mạnh đến hình thức bên ngoài, sẽ dễ tạo nên một sự thứ tha máy móc. Hãy gặp mặt chính Chúa là Cha, để trở về với Cha.
6.
Soi sáng thứ bốn mở lòng trí tôi ra là để tôi chọn Chúa Giêsu một cách tuyệt đối và dứt khoát.
Tôi đã chọn Chúa Giêsu. Sự lựa chọn đó của tôi là tuyệt đối. Tôi dám nói về sự lựa chọn đó bằng những lời của thánh Phaolô: “Tôi tin chắc rằng: Cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm, hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì tách được tôi ra khỏi tình yêu cua Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô  Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8,38-39).
Tôi chọn Chúa Giêsu là cũng chọn thánh giá của Người: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài thánh giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6,14). Vì thế “Tôi luôn mang nơi thân xác mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Kitô cũng được biểu lộ nơi thân mình tôi” (2Cr 4,10). Tóm lại, “Tôi chỉ có một tham vọng là làm đẹp lòng Người” (2Cr 5,9).
7.
Những gì trên đây đã xảy đến cho tôi từ cái nhìn của Chúa Phục Sinh thực là tuyệt vời. Tôi hết lòng cảm tạ Chúa.
Tôi nghĩ Chúa Phục Sinh đã đến với nhiều người, có thể cũng một cách như đã đến với tôi, và có thể bằng những cách khác. Điều quan trọng là mỗi người chúng ta cần phải tỉnh thức và nhạy bén. Bởi vì Chúa Phục Sinh đến cách bất ngờ, lúc bất ngờ, và ở nơi bất ngờ.
Nếu chúng ta tưởng Chúa Phục Sinh sẽ đến theo chương trình chúng ta đã sắp đặt trước, thì ta tự lừa dối mình.
8.
Kinh nghiệm của riêng tôi cho tôi thấy: Chúa Phục Sinh thường hay đến với tôi bằng một cái nhìn thân thương của Người. Người gởi cho tôi cái nhìn thân thương ấy của Người qua nhiều phương tiện. Qua cầu nguyện, qua một số người, một số thời sự, một số bài báo, một số trang sách, một số biến cố vv... Tôi đã bắt chợt được những cái nhìn thân thương của Chúa. Chính nhờ ơn Chúa. Tôi đón nhận sứ điệp gói trong những cái nhìn đó, để rồi tôi gặp được chính Chúa Phục Sinh.
9.
Không phải sứ điệp nào trong những cái nhìn của Chúa đều làm tôi vui. Bởi vì không thiếu trường hợp, sứ điệp đó lại là những cảnh báo rất đáng sợ.
Xưa: “Khi đến gần Giêrusalem và nhìn thấy thành, Đức Giêsu khóc thương mà nói: ‘Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi. Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được. Thật vậy, sẽ tới những ngày quân thù đắp luỹ chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề. Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái ngươi đang ở giữa ngươi và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm” (Lc 19,41-44).
Chúa nhìn thành và đã khóc. Tôi đang thấy cảnh đó tái diễn. Người cảnh báo về một sự sụp đổ tang thương nào đó. Và tôi lo sợ. Lo sợ của tôi giúp tôi thêm khiêm nhường và bớt chủ quan để thêm cậy tin vào Chúa Phục Sinh.
10.
“Xin đừng làm theo ý con, nhưng xin theo ý Cha mà thôi” (Lc 22,42). Tôi luôn cùng với Chúa Phục Sinh nói lên lời phó thác đó, để thánh ý Chúa Cha được nên trọn nơi tôi. Tôi xác tín tôi được sai đi để làm chứng cho Chúa qua sự từ bỏ mình, để vâng phục trọn vẹn nơi Chúa Phục Sinh.

GM. GB. Bùi Tuần
Long Xuyên 28-3-2015

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

MÙA CHAY CỦA TÔI

MÙA CHAY CỦA TÔI

1.
Với những kinh nghiệm của đời mình, tôi thường sống Mùa Chay với tinh thần sám hối và tin vào Chúa, một cách sống động hơn, nhờ ơn Chúa Thánh Thần.
Cụ thể là tôi sống với bốn xác tín sau đây:
2.
Tôi xác tín mình là kẻ tội lỗi rất cần được ơn tha thứ.
Tôi thực sự là kẻ rất yếu đuối tội lỗi. Thánh Phaolô viết về chính mình thế này: “Tôi mang tính xác thịt, bí bán làm tôi cho tội lỗi. Thật vậy, tôi làm gì thì tôi cũng chẳng hiểu. Vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm” (Rm 7,14-15).
Lời thú tội trên đây của thánh Phaolô khích lệ tôi hãy nói lên sự thực về tôi, tôi cũng là như thế, và còn hơn thế rất nhiều.
Khi tôi thú nhận mình tội lỗi, tôi không quá nhấn mạnh đến sự hư đốn của tôi, nhưng tôi nhấn mạnh hơn đến sự tôi được Chúa tha thứ. Tôi thực sự đã cảm nhận những lời Chúa phán xưa về tình yêu Chúa dành cho kẻ tội lỗi, như: “Ta không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,13). “Con Người đến, để cứu cái gì đã hư mất” (Mt 18,11). “Anh em nghĩ sao? Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để 99 con kia trên núi, mà đi tìm một con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là 99 con không bị lạc. Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18,12-14).
3.
Tôi không thể hiểu được, làm sao tôi có thể sống, nếu không được tha thứ. Tôi càng không dám gánh trách nhiệm nào, nếu tôi không tin rằng Chúa sẽ tha thứ cho những yếu đuối tôi.
Tôi được ơn tha thứ. Nên tôi rao giảng về sự tha thứ. Tôi làm chứng đạo Chúa có đặc điểm là tha thứ.
4.
Tôi xác tín mình là kẻ có rất nhiều giới hạn trong mọi lãnh vực, rất cần khiêm tốn tìm hiểu, lắng nghe và cộng tác với nhiều người.
Kinh nghiệm cho tôi thấy: không gì hại cho tôi bằng sự tôi nghĩ mình phải làm đủ mọi sự, và có thể làm được mọi sự. Kinh nghiệm cũng cho tôi thấy là: Không gì dại khờ cho tôi bằng sự tôi cho rằng mình phải làm được điều gì đặc biệt, khác với các Giám mục, và linh mục tại Việt Nam hôm nay.
5.
Tôi vững tin rằng: Chúa chỉ đòi tôi một điều là: Hãy kết hợp mật thiết với Chúa, rồi ơn Chúa sẽ dẫn đưa tôi làm những gì Chúa muốn, theo khả năng bé nhỏ của tôi. “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa quả, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).
6.
Tôi xác tín mình được gọi tham dự vào thánh giá Chúa, để góp phần vào việc cứu các linh hồn.
Rất nhiều khi, tôi đã nghĩ rằng: Đau khổ tôi chịu là do tội lỗi của tôi, và là con đường giúp tôi nên thánh. Nhưng dần dần, tôi xác tín: Đau khổ là một ơn gọi Chúa dành cho tôi, để tôi được góp phần vào việc cứu các linh hồn.
7.
“Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người” (Mc 19,45). “Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,15).
8.
Càng ngày, những lời Chúa phán trên đây càng làm cho tôi xác tín về sự tôi chịu đau khổ là để đáp lại ơn gọi Chúa dành cho tôi. Đau khổ gắn liền với mục vụ, đau khổ là một cách cứu độ, đau khổ là để hiệp thông với thánh giá Chúa.
Đau khổ là một ơn gọi, là đau khổ ấy đến từ nhiều phía. Rất có thể đến từ phía cộng đoàn của tôi, do những chống đối, những xa cách, những hiểu lầm, những ghen tương, vv...
Tôi phải sẵn sàng đón nhận. Rất có thể đau khổ đến từ những chuyển biến bất ngờ đòi tôi phải từ bỏ chương trình có sẵn, để bắt đầu lại.
Rất có thể đau khổ đến từ phía những văn hoá mới có vẻ bình thường hoá những tội lỗi và căn cứ vào ý kiến số đông như thước đo đạo đức. Những trường hợp như thế, tôi sẽ rất cô đơn và đau khổ.
Rất có thể đau khổ của tôi lại là những đau khổ của người khác. Khổ cái khổ của đồng bào tôi. Đau cái đau của Hội Thánh tôi.
9.
Tôi xác tín là cuộc sống của tôi rất mong manh, tôi ra đi bất cứ lúc nào, tôi phải sẵn sàng ra trước mặt Chúa với niềm phó thác tuyệt đối vào lòng thương xót Chúa.
Thánh Têrêsa thành Lisieux nói về mình: “Tôi sẽ hiện diện trước Chúa với bàn tay không”. Ngài nhận mình chẳng là gì, chẳng đáng gì, chẳng có gì gọi là công phúc. Ngài chỉ là đứa con bé nhỏ, chỉ tin vào tình yêu Chúa mà thôi.
Tôi sẽ không nói được như thánh nữ. Nhưng tôi sẽ nói với Chúa: Con là kẻ tội lỗi, mang theo nhiều dấu ấn của tội lỗi. Nhưng con tin ở lòng thương xót Chúa. vì Chúa là Chúa của con.
10.

Với bốn xác tín trên đây, tôi sống mùa Chay năm nay một cách bình an. Tôi biết sống như thế chính là một sự hoán cải nội tâm, đòi tôi phải rất khiêm nhường vâng phục thánh ý Chúa. Sự vâng phục khiêm nhường đó nhiều khi vượt quá tính cách hợp lý theo cách suy nghĩ của thế gian. Nhưng Chúa Giêsu đã làm. Tôi cũng làm như Chúa Giêsu. Như thế, tôi mới góp phần vào việc cứu nhân loại. Nhân loại hiện nay đang rất cần được cứu. Chỉ Chúa mới cứu được mà thôi.
GM.GB. Bùi Tuần

Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2014

SÁM HỐI

SÁM HI


1. 
Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu nhn mnh đến sám hi. Ti Fatima, Đc M tha thiết kêu gi sám hi. Đc Thánh Cha cnh báo: Tình hình hin nay s đi ti đi ho, nếu không sám hi. Lương tâm tôi nhc bo: Chính bn thân tôi cũng s rơi vào vc thm hư vong, nếu không sám hi.
Nhn thc sám hi là rt quan trng, tôi cu xin Chúa giúp tôi thc hin vic đo đc đó.
Chúa là Cha giàu lòng thương xót, đã và đang giúp tôi đi vào con đường sám hi. Con đường sám hi là con đường có nhiu khó khăn. Nhưng nh ơn Chúa, tôi đang bước đi vi nhng bước nh. Tôi xin chân thành chia s nhng kinh nghim nh bé ca tôi.
2. 
Trước hết, Chúa cho tôi biết mc đích vic sám hi ca tôi là tôi được hoán ci, tr nên con cái Thiên Chúa, nh được Thánh Thn Thiên Chúa hướng dn, đ ri, tôi giúp nhiu người khác cũng được như vy. Như li thánh Phaolô dy: “Phàm ai được Thánh Thn Thiên Chúa hướng dn đu là con cái Thiên Chúa (Rm 8,14). Ri Chúa dy thêm.
3. 
Chúa hi tôi: Trước đây và chính lúc này, con có thc s là con cái Thiên Chúa, nh vic đ cho Thánh Thn Thiên Chúa hướng dn con không?
Đ gi ý cho tôi xét mình, Chúa cho tôi nh li hai d ngôn trong Phúc Âm.
4. 
D ngôn th nht là v các loi đt đón nhn ht ging Li Chúa: Đt bên v đường, đt có nhiu si đá, đt có nhiu gai góc, đt tt (x. Lc 8,5-15). Tôi thuc loi đt nào?
5. 
D ngôn th hai là v các loi khách được mi vào d tic trong Nước Thiên Chúa. Có người xin kiếu, vì cn đi thăm tha đt mi mua. Có người xin kiếu, vì cn th my cp bò mi tu được. Có người xin kiếu, vì cn chăm sóc cô v mi cưới. Có người tàn tt, đui mù, què qut thì phút chót li được đón vào (x. Lc 14,15-24). Tôi thuc loi khách nào?
6. 
Chúa can tôi ch vi nhn mình là đt tt và là người khách tt. Nhưng đ thy rõ s thc v mình, Chúa dy tôi trước hết phi tĩnh lng hi tâm.
7. 
S tĩnh lng hi tâm này không nht thiết phi thay đi hoàn cnh, cũng không nht thiết phi làm nhng vic hãm mình pht xác khác thường, nhưng ch yếu là phi tĩnh lng, phi du li li sng ham hot đng, phi biết dành thi gi cn thiết cho vic cu nguyn, đ toàn th con người tôi d được ơn thánh thm nhp và chinh phc.
8. 
Cùng vi s tĩnh lng hi tâm, tôi cn phi thc hin mt vic quan trng khác, đó là khát khao tìm Chúa.
S khao khát tìm Chúa được thúc đy trong tôi mt cách thường xuyên qua nhng thao thc được thuc trn v Chúa và qua nhng ước mong được Chúa là hnh phúc ca mình. Lúc rõ, lúc m, nhng thao thc và ước mong như thế được tôi cm nhn như nhng tiếng gi ca Thiên Chúa là tình yêu. Tôi phi đáp ng.
9. 
Đáp ng nhng li mi gi ca Chúa là phi như thế nào?
Trước hết tôi phi ngoan ngoãn đón nhn s sng ca Chúa. Chúa ban s sng ca Chúa cho tôi, khi tôi kết hp mt thiết vi Chúa. Chúa phán: “Thy là cây nho, các con là cành. Ai li trong Thy và Thy li trong người y, thì người y sinh nhiu hoa trái. Vì không có Thy, các con chng làm gì được (Ga 15,5).
Kết hp vi Chúa bng tình yêu mến trn vn, và yêu thương người khác như Chúa yêu thương chúng ta.
Tôi còn phi đáp ng li mi gi ca Chúa bng s tôi đón nhn thánh ý Chúa mt cách khiêm nhường. Tôi phi rt thn trng trong vic vâng phc thánh ý Chúa. Làm vic đo đc n, vic lành kia nhân danh Chúa, ri tưởng đó là đ đ được gi là thc thi ý Chúa, thì đó là mt sai lm d thường xy ra. Nhng vic như thế b Chúa cnh báo mt cách nghiêm khc. Chúa nói rõ: Nhng k nhân danh Chúa mà nói tiên tri, mà tr qu, mà làm nhiu phép l, nhưng không thc s vâng theo ý Chúa, đu b Chúa xua đui, như nhng k làm điu gian ác (x. Mt 7,21-23).
10. 
Khi đã được Chúa chia s cho s sng ca Chúa, và được thông hip vi thánh ý Chúa, tôi mi thy rõ trong tôi đã có mt s tư tưởng, li nói, vic làm không do Thánh Thn Thiên Chúa hướng dn. Tôi xin Chúa tha th cho tôi. Tôi quyết tâm sa li. Tôi cũng nhn ra trong tôi đã có nhng thiếu sót, do không vâng phc Thánh Thn Thiên Chúa hướng dn. Tôi xin Chúa th tha cho tôi. Tôi dc lòng ci thin.
11. 
Đ sám hi v nhng trường hp đã không đ Chúa Thánh Thn hướng dn, tôi rt cn được ơn Chúa Thánh Thn tr giúp. Sám hi này là rt quan trng đi vi các mc t và nhng người có trách nhim đào to dn dt người khác.
12. 
Bây gi xin đ cp đôi chút ti sám hi v bn phn giúp cho người khác cũng được nên con cái Chúa nh được Thánh Thn Chúa hướng dn.
Khi sám hi ca tôi được Chúa Thánh Thn hướng dn, tôi mi nhn ra rõ li lm ca tôi trong mc v và truyn giáo thường không phi là do thiếu lý thuyết, mà là do thiếu thc hin c th trong nhng hoàn cnh c th.
13. 
Trên lý thuyết, tôi biết người đy t trung tín và khôn ngoan mà ch đt lên đ coi sóc gia nhân, s phi cung cp lương thc tt cho h đúng gi đúng lúc (x. Mt 24,45). Nhưng trên thc tế, nếu tôi không phân phát cho đoàn chiên Li Chúa, tình yêu, li khuyên và gương sáng là lương thc tt, theo nhu cu ca thi đim này và đa phương này, thì đúng là tôi có li, do tôi không chu phn đu đ lng nghe Thánh Thn Chúa hướng dn tôi vào thc tế c th hin nay có nhiu thách đ.
Trên lý thuyết, tôi biết Chúa trao cho tôi nhiu điu kin tt, đ tôi sinh li, là đem nhiu linh hn v vi Chúa. D ngôn nhng nén bc nói rõ điu y (x. Mt 25,14-30). Nhưng trên thc tế, nếu tôi dành nhng điu kin tt Chúa ban cho tôi vào nhng mc đích tư li cá nhân, thì đúng là tôi có li, do không chu phn đu đ vâng theo s hướng dn ca Thánh Thn Chúa trong thc tế phc tp, có nhiu cm by.
14. 
Nếu thc tế tôi đã sai lm như thế trong mc v và truyn giáo, thì tôi là người cng tác rt thiếu trách nhim đi vi Chúa, và cũng phn nào thiếu trách nhim đi vi đoàn chiên. Vì thế khi sám hi, tôi hay s tôi s b pht vì thiếu nhng trách nhim đó. Nhưng càng s thì càng bám vào Chúa, càng c gng sa mình, càng chp nhn nhng đn đau nhc nhn đ đn ti.
Điu s nht  là lòng tôi có th tr thành mnh đt chai đá , có th tr nên người khách được mi nhưng ri b đui ra khi nước Chúa. Tôi s nhưng luôn phó thác tin cy Chúa giàu lòng thương xót.
15. 
Nhng gì tôi va chia s, cho thy sám hi là mt vic rt quan trng, đ cu chính bn thân tôi, đng thi cũng đ góp phn cu nhng người khác, trong đó có cng đoàn ca tôi, Hi Thánh ca tôi, Đt Nước ca tôi, cách riêng nhng người nghèo hèn thân thiết ca tôi. Tình hình là rt nghiêm trng
Ly Chúa, sám hi đã đưa con và nhiu người ti hnh phúc tuyt vi. Con tin nhn đây là mt ơn trng đi Chúa ban cho chúng con. Con xin hết lòng cm t Chúa sut đi này và mãi mãi đi sau.


GM. GB. Bùi Tuần
Long Xuyên, ngày 10/10/2014