Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2014

XIN VÂNG

Một ngày với Đức Mẹ
XIN VÂNG 
1.
Suốt đêm vọng lễ Đức Mẹ lên trời, tôi dọn mình bằng cầu nguyện một cách đơn sơ, đó là lần chuỗi Mân côi.
Tôi ngủ, mà cũng chiêm bao về Đức Mẹ. Tôi mơ ngồi trên một toa xe nhỏ đi về cõi sau. Trong xe có một phụ nữ dáng người mẹ và một số tín hữu nam nữ. Người phụ nữ ấy lần chuỗi và khuyên chúng tôi lần chuỗi.
Tôi cầu nguyện trong tâm tình yêu thương nhau và mến yêu Chúa một cách đơn sơ khiêm nhường. Lòng tôi cảm thấy đầy bình an vui mừng và hân hoan lạ lùng.
2.
Tôi thức rất sớm. Trước khi dâng thánh lễ, tôi thầm nói với Chúa rằng: Hiện nay con già yếu bệnh tật, con chẳng làm được gì đáng kể để mừng kính Đức Mẹ. Xin Chúa dạy con nên làm gì. Tôi ra sân, bất ngờ tôi thấy một bông hoa mai trái mùa mới nở. Chúa thầm bảo tôi: Con hãy là một bông hoa nhỏ. Dù trong đêm tối, hoa vẫn là hoa. Đó là một của lễ. Hoa thiêng liêng ấy đẹp thơm, vì vâng phục thánh ý Chúa. Như Đức Mẹ xưa. Mẹ đã “Xin vâng” trong ngày truyền tin. Mẹ đã sống “Xin vâng” suốt cả cuộc đời.


3.
Tôi dâng thánh lễ, với tâm tình xin Chúa cho tôi biết sống xin vâng, theo gương Đức Mẹ. Chúa đã nhậm lời tôi nhờ lời cầu bầu của Đức Mẹ. Trong thánh lễ, Chúa dạy tôi ba điều Đức Mẹ đã sống “Xin vâng” một cách sâu sắc nhất.
4.
Điều thứ nhất của Xin Vâng là sống khiêm nhường.
Ngay đầu thánh lễ, Chúa dạy tôi hãy xin vâng, mà thú nhận mình hèn mọn, tội lỗi. Hãy theo gương Mẹ.
Đức Mẹ rất khiêm nhường trước Chúa và trước mọi người. Khi được chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Mẹ đã lặng lẽ âm thầm sống ơn gọi đặc biệt đó. Không phô trương, không loan báo cho ai, không tổ chức ăn mừng. Mẹ hạ mình xuống, nhận mình chỉ là người đầy tớ bất xứng của Chúa.
Với nhận thức như thế về Mẹ, tôi đọc kinh “Cáo mình” đầu thánh lễ. “Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em, tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót”. Tôi thực tình sám hối. Chỉ trách tội mình, chứ không trách tội người khác. Tôi tin Chúa cứu tôi khỏi tội. Mãi mãi tôi vẫn là một kẻ yếu đuối tội lỗi, nhưng được Chúa thứ tha, giải cứu.
Khiêm nhường như thế chính là sống theo sự thực, đúng thánh ý Chúa.
5.
Điều thứ hai của Xin Vâng là sống thân mật với Chúa, tức vâng phục ý Chúa.
Trong thánh lễ, Hội Thánh luôn nhắc tôi về sự được tham dự vào sự sống của Chúa, được nên giống Đức Kitô, cần phải ở lại trong Chúa và trong Lời Chúa. Đức Mẹ xưa đã triệt để sống như vậy. Xin vâng của Mẹ là ưu tiên sống mật thiết với Chúa. Sống mât thiết này không hệ tại tình cảm, mà là vâng phục ý Chúa Cha một cách trọn vẹn.
Chúa Giêsu đã phán: “Của ăn của Ta là làm theo ý Đấng đã sai Ta” (Ga 4,34). Đức Mẹ cũng đã coi sự vâng phục ý Chúa như lương thực của mình. Thánh lễ dạy tôi điều đó. Thực thi đúng ý Chúa mới chính là sống thân mật với Chúa. Nhưng biết được đúng ý Chúa và thực thi đúng ý Chúa là điều không dễ chút nào.
Nhiều khi tôi  nghĩ cứ làm theo thiện chí là làm theo ý Chúa. Nhưng Phúc Âm dạy tôi nghĩ thế là sai.
Khi nghe Chúa Giêsu nói Người sẽ bị nhiều đau khổ và sẽ bị giết, thánh Phêrô đã phản ứng: “Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy! Nghe vậy Chúa Giêsu đã mắng thánh Phêrô: ‘Satan, lui lại đàng sau’. Anh cản Thầy, tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của con người” (Mt 16,21-23).
Rồi, khi Chúa Giêsu vào nhà chị em Marta và Maria, Marta lo dọn nhiều món ăn và vất vả nhiều chuẩn bị để đãi Chúa. Nhưng Chúa lại nói: “Marta, sao con lo lắng nhiều chuyện quá. Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi” (Lc 10,41). Rõ ràng thiện chí của con người không luôn đúng với điều Chúa muốn. Hiểu được như vậy đã giúp tôi tỉnh táo hơn trong việc sống thân mật tình cảm với Chúa và sống theo thiện chí. Tưởng sống như thế luôn là ý Chúa, sẽ có thể rât sai.
6.
Tại Việt Nam hôm nay đang nở rộ nhiều phong trào đạo đức, nhiều khuynh hướng làm sáng danh Chúa, nhiều hình thức làm chứng cho Chúa. Nhưng, tất cả những thứ đó có thực sự là đúng ý Chúa không? Hay chỉ là thiện chí, cạnh tranh, tục lệ, ý kiến phô trương, xây dựng uy tín, kiếm tìm lợi lộc vật chất? Tôi dám nghĩ rằng: Ma quỷ sẽ khôn khéo dùng chính những việc đạo không phải ý Chúa, để mà phá đạo. Vì thế, phải rất tỉnh thức trong thời buổi này. Ý Chúa chỉ được tỏ ra cho những ai khiêm nhường, quyết tâm đi vào cửa hẹp và đường nhỏ hẹp, từ bỏ mình, vác thánh giá mình mà theo Chúa.
7.
Điều thứ ba của Xin Vâng là yêu thương bác ái.
Xưa, Đức Mẹ đã biết lãnh nhận và đã biết cho đi. Dù lãnh nhận, dù cho đi, Đức Mẹ đã luôn khiêm nhường, tế nhị, và biết ơn.
Điều Đức Mẹ dạy tôi rõ ràng nhất về yêu thương bác ái là sự Đức Mẹ đồng công cứu chuộc loài người. Cứu người dù phải hy sinh đến mấy, đó là điều xin vâng cao quý nhất.
Đức Mẹ luôn nhắc bảo tôi về yêu thương bác ái, với hình ảnh Mẹ đứng dưới chân thánh giá.
Trong giờ phút cám ơn cuối thánh lễ, tôi nói với Đức Mẹ rằng: Con chẳng có gì để cho đi. Hiện giờ con già yếu bệnh tật, nghèo nàn về mọi phương diện. Con xin Mẹ, cho con được là viên gạch nhỏ lát nền, để mọi người bước qua, mà đến với Chúa. Đức Mẹ cho tôi biết: Ý kiến đó của tôi chưa hẳn là đúng ý Chúa. Ý Chúa chắc chắn nhất về tôi lúc này là hãy cảm tạ ngợi khen Chúa về muôn vàn người tốt, sự thiện tốt và hy vọng tốt, mà Hội Thánh và Quê Hương Việt Nam yêu dấu của tôi hiện đang có một cách đặc biệt.
8.
Thế là một ngày mừng kính Đức Mẹ đã qua đi, để lại trong tôi rất nhiều hồng phúc. Tôi thầm đọc đi đọc lại kinh “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa”, mà Đức Mẹ đã thốt lên tại nhà bà thánh Elisabét.
Tôi vừa đọc kinh đó, vừa bước từng bước nhỏ, để về phòng. Bước nhỏ, mà cũng phải chống gậy. Tôi nói với Đức Mẹ: “Con yếu đuối lắm. Xin Mẹ thương dắt con đi từng bước nhỏ trên đường xin vâng. Cùng với Mẹ, con tin Cha trên trời luôn có những chương trình thương xót đối với con. Con xin vâng với hết lòng cảm tạ.

Long Xuyên, ngày 18.8.2014.
GM. GB. Bùi Tuần

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

ĐỨC MẸ LÊN TRỜI TẠI VIỆT NAM HÔM NAY

       
1.
Đã gần 40 năm rồi, tôi cùng với vài linh mục đã đến thăm giáo xứ Hòn Chông, một giáo xứ ven biển thuộc Kiên Giang.
Từ Hòn Chông, chúng tôi đi thăm giáo xứ Rạch Đùng cũng vùng hẻo lánh. Trên đường đi, chúng tôi ghé lại xóm Rẫy mới. Nơi đây lúc đó chỉ còn vài gia đình rải rác ở sườn núi.
Điểm đáng chú ý là nơi đây còn dấu vết một ngôi nhà thờ nhỏ. Tất cả đều đã bị bom tàn phá. Còn trơ lại vài bức tường đổ nát, cỏ cây trùm phủ um tùm.
2.
Giữa chốn hoang vu ấy, chúng tôi ngạc nhiên thấy một tượng Đức Mẹ đứng giữa cỏ cây rêu phủ.
Ngạc nhiên tiếp nối ngạc nhiên, khi chúng tôi đọc thấy trên bức tường đá gần bên một bài thơ ghi khắc sâu bằng vật nhọn:
“Mẹ đứng ở đây một góc trời.
Đôi mắt nhân từ nhìn muôn nơi.
Hai tay ban xuống muôn hồng phúc.
Cho kẻ tin yêu chạy đến Người” (Bảo Sơn).
3.
Có thể tác giả là một người lính hành quân qua đường trong thời chiến. Anh đã được Đức Mẹ ban ơn. Anh đã xúc động. Nên đã ghi khắc trên đá một niềm tin bao quát như vậy.
Tôi không hiểu sứ điệp anh gởi đã tới những ai. Nhưng ít ra, niềm tin đầy xúc động ấy đã ảnh hưởng lớn đến tôi.
4.
Cho tới bây giờ, tượng Đức Mẹ chốn hoang vu đó và bài thơ nặng tình trên bức tường rêu phong đó đã luôn gợi ý cho tôi.
Tôi nghĩ là chính Đức Maria đã gợi ý cho tôi thế này:
Tại Việt Nam hôm nay, Mẹ vẫn đợi chờ mọi con cái Mẹ ở những nơi bị tàn phá, bị bỏ rơi, vùng sâu, vùng xa. Mẹ vẫn đợi chờ với đôi mắt nhân từ và với hai tay ban ơn. Mẹ vẫn đợi chờ được ôm vào lòng những đứa con nghèo khổ bơ vơ, để cùng Mẹ lên Trời hưởng tình yêu trọn vẹn muôn đời.
5.
Gợi ý trên đây đã trở thành một tiếng gọi đối với tôi. Đức Mẹ gọi tôi từ những cảnh khổ đau, cô đơn.
Khi đến với những cảnh đó, tôi đã gặp được Đức Mẹ. Mẹ đã ở đó từ lâu rồi. Mẹ và những người khổ đau làm nên một gia đình của niềm tin và của tình thương.
Bên Mẹ nhân từ, tôi thấy biết bao con người lầm than. Họ khổ lắm. Họ lầm than lắm. Họ bị hắt hủi, bị loại trừ. Chỉ còn Mẹ là nơi họ tựa nương. Mẹ đón nhận họ với tất cả tấm lòng người mẹ đầy thương xót.
6.
Năm đó, tôi đi Lavang. Tại đây, tôi đã thầm nói với Đức Mẹ nhiều điều, kể cả những tâm tình, mà tôi vừa chia sẻ trên đây. Mẹ tại Lavang cho tôi nhớ lại những năm chiến tranh, những tháng đói nghèo, mà tôi đã trải qua. Suốt thời gian đó, Mẹ đã là nguồn an ủi vô cùng quý giá cho tôi. Một cách âm thầm, mà hữu hiệu.
Hồi đó, tại nơi tôi ở không có nhà thờ, không có thánh lễ, không có cộng đoàn quy tụ. Rất nhiều khi, chỉ có một mình, với tấm lòng đầy niềm tin và trông cậy đặt ở Mẹ.
7.
Bên Mẹ, nhờ Mẹ và với Mẹ, trong thời loạn ly đói khổ, tôi có kinh nghiệm phần nào về sự Đức Mẹ xưa đã sống nghèo giữa những người nghèo, ở những địa phương nghèo, để âm thầm chia sẻ cuộc sống của họ, nhờ đó mà đưa họ về với Tin Mừng.
8.
Hiện nay, ơn gọi theo gương Mẹ âm thầm bác ái ở Nagiarét vẫn đang sống động bằng nhiều cách ở nhiều nơi.
Khi qua Hungari, Liên Xô, Đức, Pháp và ngay tại Đất Thánh, tôi vẫn được gặp những hình ảnh sống động của Đức Mẹ lặng lẽ giữa những lớp người nghèo chật vật trong những hoàn cảnh rất khó khăn.
Mấy ngày nay, qua báo chí và truyền hình, tôi thấy tình hình tại những nơi Chúa Giêsu và Đức Mẹ, thánh Giuse và các thánh tông đồ xưa đã rao giảng Tin Mừng, đang trở thành nơi xung đột đẫm máu.
Chính tại những nơi này và chính trong thời điểm này, sự hiện diện âm thầm của những hình ảnh sống động Mẹ Maria nhân ái đang giúp ích rất nhiều cho các linh hồn.
Họ là những nhóm nhỏ, sống nghèo, giữa những người nghèo. Đặc điểm của họ, là cùng với Đức Mẹ, đưa Chúa Giêsu đến với mọi người, qua những gặp gỡ và gần gũi thân thương.
9.
Tôi cũng đang thấy như vậy tại Việt Nam. Tuy không đều khắp, nhưng những cá nhân và những nhóm nhỏ của Đức Mẹ tại Nagirét đang đi về vùng sâu vùng xa và bước sâu vào những vùng tăm tối ngay giữa các thành thị.

10.
Họ rất cần được đào tạo.
Sẽ rất lầm, nếu đào tạo họ bằng cách cho họ thấy họ sẽ là kẻ sẽ được chức cao quyền trọng, lời lớn lộc nhiều, như một lớp người lãnh đạo.
Sẽ rất lầm, nếu đào tạo họ bằng cách chiều chuộng họ với một cuộc sống đi theo con đường rộng rãi thênh thang, như một lớp người hưởng thụ.
11.
Đào tạo cần thiết nhất cho họ cũng như cho tôi là một thứ biến đổi theo lời Chúa Giêsu phán: “Nếu các con ở lại trong Thầy, và lời Thầy ở lại trong các con, thì muốn gì, các con hãy xin, các con sẽ được như ý” (Ga 15,7). Ta ở lại trong Chúa và lời Chúa ở lại trong ta, đó sẽ là một sự biến đổi, như đã xảy ra xưa nơi Đức Mẹ.
Tôi đang thấy Chúa biến đổi nhiều người tại Việt Nam thành hình ảnh Đức Mẹ, nhờ sự ở lại trong Chúa và trong lời Chúa. Họ đang được Chúa chuẩn bị cho một tương lai, mà tình hình đạo sẽ sáng lên ở những vùng sâu vùng xa, nơi ở của những lớp người nghèo khổ. Đức Mẹ đưa họ lên trời từ những cuộc sống phấn đấu chân thành và âm thầm cho niềm tin và tình yêu thương bác ái.
Lạy Mẹ Maria, con khốn khổ yếu đuối lắm, con đến với Mẹ, con tin ở Mẹ. Xin Mẹ thương cho con được theo Mẹ lên trời từ vực sâu tội lỗi của con. Xin Mẹ cũng thương đến tất cả những ai chân thành tìm đến với Mẹ.

GM. GB. Bùi Tuần
Long Xuyên, ngày 9.8.2014

Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2014

ƠN GỌI TỪ NHỮNG MẢNH ĐẤT


1.
Đã lâu rồi, tôi hay nghĩ đến sự chết. Tôi nghĩ đến sự chết của những người khác một cách thấm thía. Tôi nghĩ đến sự chết của tôi một cách sâu xa, như một biến cố duy nhất nghiêm trọng, sẽ chỉ xảy ra một lần với hậu quả đời đời vô cùng vô tận.
Nghĩ đến sự chết, tôi thường nghĩ đến đất là nơi đón nhận mọi người chết. Tự nhiên tôi yêu thích đất. Có một sức thiêng thúc giục tôi hãy cầu nguyện, xin Chúa cho tôi ngay từ bây giờ, hãy là mảnh đất tốt trước mặt Chúa.
2.
Chúa thương nhận lời tôi. Với ánh sáng Phúc Âm, Chúa cho tôi thấy hai mảnh đất sau đây có thể gọi được là ơn gọi cho tôi.
Mảnh đất thứ nhất là mảnh đất được chăm sóc biết đón nhận những hạt giống tốt, làm cho những hạt giống tốt đó sinh hoa kết quả.
Mảnh đất như thế đã được Chúa Giêsu nói đến trong dụ ngôn người gieo giống (Mt 13,4-23).
Khác với mảnh đất ở bên vệ đường bỏ mặc chim thú, cũng khác với mảnh đất có nhiều sỏi đá, cũng khác với mảnh đất ở giữa bụi gai, mảnh đất tốt là mảnh đất được chăm sóc. Lời Chúa gieo vào đó được hiểu đúng và sinh hoa kết quả từng chục, từng trăm.
 3.
Ơn Chúa và kinh nghiệm cho tôi thấy mỗi người có thể ví như một mảnh đất sẽ được nhiều thứ hạt giống gieo vào. Phải là hạt giống tốt, và đất cũng phải được chăm sóc tốt, thì mới trổ sinh ra được hoa trái tốt.
4.
Tôi có là mảnh đất tốt mà Chúa muốn không? Xét mình, tôi thấy tôi có trách nhiệm lớn về việc giáo dục đối với bản thân mình. Giáo dục nhân bản, giáo dục trí thức, giáo dục tu đức theo Phúc Âm là những giáo dục tôi phải thường xuyên thực hiện đối với bản thân mình. Giáo dục nào cũng đòi một kỷ luật nội tâm và lối sống. Giáo dục như thế là một đào tạo con người về hướng đạo đức, để sống giữa đời, tôi biết đón nhận những hạt giống tốt. Nếu không, tôi rất dễ ra hư hỏng.
5.
Kinh nghiệm cho tôi thấy: Con người ta sẽ rất dễ hư hỏng, khi không được giáo dục tốt, như giáo dục chỉ đặt nặng về lý thuyết, mà lơ là về kỷ luật và phấn đấu, cũng như tránh tập luyện trong những khó khăn. Tôi xin phép được nói về một kinh nghiệm riêng tư.
6.
Nền giáo dục tôi nhận được từ gia đình phải nói là khá vững về nhân bản và về Phúc Âm. Giáo dục đó đòi hỏi tôi nhiều phấn đấu để được biến đổi thành người tốt.
Nền giáo dục tôi nhận được từ nhà Đức Chúa Trời và từ các chủng viện, cũng phải nhận là rất vững về nhân bản, về trí thức và về Phúc Âm. Giáo dục đó đòi hỏi nhiều dấn thân, cầu nguyện và tỉnh thức để biết tự hạ, luôn tìm thực thi ý Chúa.
Nền giáo dục tôi nhận được từ các chức vụ trong Hội Thánh hầu hết là trong những năm khó khăn gian khổ, cũng phải nói là rất sát với Công đồng Vatican II và khuynh hướng tu đức của các Đức Giáo Hoàng cận đại. Giáo dục đó đòi hỏi nhiều từ bỏ mình, để phó thác cậy tin ở Chúa Thánh Thần và khao khát Lời Chúa.
Tất cả đều nhờ ơn Chúa. Xin Chúa trả công bội hậu cho mọi người đã góp phần giáo dục tôi.
7.
Nói chung, các nền giáo dục đó đã giúp tôi trở thành một mảnh đất thuận lợi tương đối để đón nhận Lời Chúa. Lời Chúa được gieo vào mảnh đất lòng tôi thì nhiều, nhưng xem ra Lời Chúa được Chúa nhấn mạnh hơn trong tôi là “Những gì tốt con làm cho những kẻ bé nhỏ nhất của Ta, là con làm cho chính Ta” (Mt 25,40). Lời đó đã làm cho đời tôi trở thành một chuỗi dài thao thức trước những nỗi khổ đau của mọi đồng bào. Phải chăng đó là ơn gọi của tôi. Tôi cảm tạ Chúa hết lòng vì ơn gọi đó. Ơn gọi đó đã giúp tôi gặp được Chúa trong bao người đau khổ.
8.
Mảnh đất thứ hai cũng gọi được là mảnh đất ơn gọi của tôi, đó là mảnh đất được Chúa viết lên trên.
Phúc Âm thánh Gioan kể rằng: “Các kinh sư và người Pharisêu dẫn đến trước mặt Đức Giêsu  một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, rồi nói với Đức Giêsu: Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Moisen truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao? Họ nói thế, nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giêsu cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ: Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi. Rồi Người lại cúi xuống mà viết trên đất. Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn một mình Đức Giêsu, và người phụ nữ thì đứng ở giữa. Người ngẩng lên và nói: Này chị, họ đâu cả rồi. Không ai lên án chị sao? Người phụ nữ đáp: Thưa ông, không có ai cả. Đức Giêsu nói: Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8,3-11).
9.
Khi đọc đoạn Phúc Âm trên đây, tự nhiên tôi để ý đến mảnh đất được Chúa Giêsu cúi xuống lấy ngón tay mà viết lên trên. Chúa viết gì, thì tác giả Phúc Âm không ghi lại. Chỉ biết rằng: Nhờ sự Chúa cúi xuống, lấy ngón tay viết trên đó, mà người phụ nữ kia đã được tha. Chị không những được tha tội, mà còn được tha cả hình phạt nặng nề mà luật pháp dành cho chị. Mảnh đất ấy gợi lên trong tôi một ơn gọi. Hãy biết đón nhận và cho đi những cử chỉ khiêm tốn.
10.
Khi tôi cầu xin Chúa cho tôi được là mảnh đất như vậy, thì Chúa dạy tôi hãy ở hiền lành và khiêm nhường. Tôi cố gắng sống như Chúa dạy. Kết quả tôi thấy được là sự hiền lành và khiêm nhường rất hữu hiệu trong việc cứu người ta khỏi tội và hình phạt bởi tội.
Với sự hiền lành và khiêm nhường, mảnh đất như thế sẽ là một tiếng kêu về chân lý và về hy vọng. Chân lý, đó là cả người phụ nữ ấy, cả những người tố cáo người phụ nữ ấy, đều phải nhận mình có tội, cần phải hối cải. Hy vọng, đó là Thiên Chúa giàu lòng thương xót sẽ tha thứ cho họ. Trong cuộc sống mục vụ, tôi cố gắng sống như mảnh đất đó. Chúa giúp tôi, chứ tự sức tôi không thực hiện được. Không ngờ, với sự hiền lành và khiêm tốn, người mục tử nhiều khi đã có thể ra đi rất xa và rất sâu trong việc loan báo Tin Mừng.
11.
Những gì tôi vừa chia sẻ đang giúp tôi đi tới mảnh đất chôn tôi sẽ mang tấm bảng: An nghỉ trong bình an của Chúa.
Ngay từ bây giờ, tôi tha thiết cầu nguyện cho tôi cũng được trở thành những mảnh đất bình an làm chứng về tình thương, hiền lành và khiêm nhường. Chỉ là mảnh đất nhỏ thôi. Tôi rất xấu hổ, khi được người ta cầu xin cho trở thành ngọn đèn soi sáng trần gian. Ơn gọi đó sẽ dành cho những người khác. Còn tôi là kẻ hèn hạ, nếu được là mảnh đất tốt nhỏ bé âm thầm, thì đó đã là một hồng ân cao quí đem lại sự bình an và hạnh phúc cho tôi rồi.
          Lạy Chúa, con rất yếu đuối. Mỗi ngày con sẽ bắt đầu lại trên đường theo tiếng Chúa gọi con. Xin Chúa xót thương con. Xin mọi người thương cầu nguyện cho tôi

Gm. GB. Bùi Tuần
Long xuyên ngày 25.7.2014

Thứ Năm, 31 tháng 7, 2014

LÀM CHỨNG CHO CHÚA TẠI VIỆT NAM HÔM NAY


Nhân  ngày lễ kính hai Thánh Tử Đạo tại Châu Đốc, 31.7.2014

LÀM CHỨNG CHO CHÚA 
TẠI VIỆT NAM HÔM NAY
  
1. Đã từ lâu rồi, tôi vẫn hằng cầu nguyện với các thánh tử đạo tại Việt Nam. Điều tôi xin các ngài nhiều nhất là: Xin hãy cầu bầu cùng Chúa cho tôi được ơn làm chứng cho Chúa, cách thích hợp nhất theo thánh ý Chúa, trong tình hình cụ thể đang diễn tiến trên quê hương Việt Nam yêu dấu của tôi lúc này.
2. Tôi đã được trả lời. Bằng nhiều cách, Chúa soi sáng cho tôi biết: Nhờ lời cầu bầu của các thánh tử đạo tại Việt Nam, Chúa dạy tôi là chọn một cách làm chứng thích hợp nhất, quan trọng nhất về Chúa, đúng với thời điểm này là điều tốt. Cách đó là làm chứng Thiên Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót.
Tôi xác tín điều đó. Vì nhiều lý do, như:
Các Đức Giáo Hoàng cận đại và đương thời dạy như vậy.
Xu hướng đạo đức mạnh nhất hiện nay khuyến khích như vậy.
Tâm lý đồng bào Việt Nam hiện nay rất nhạy bén với cách làm chứng như vậy.
Tôi an tâm tin tưởng: Thời nay, làm chứng Thiên Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót chính là điều Chúa muốn tôi thực hiện một cách triệt để trong chức vụ của tôi.
3. Làm chứng bằng cách nào? Tôi hết sức cầu nguyện. Và Chúa đã thương cho tôi một nền tảng gợi ý vắn tắt rõ rệt và dễ hiểu. Đó là Thánh Vịnh 103 (102).
4. Vua David nêu lên 7 việc cụ thể Chúa đã làm cho ngài. Đó là những lý do ngài nên nhìn lại, để ca tụng Chúa là tình yêu thương xót:
“Chúa tha cho ngươi muôn vàn tội lỗi.
Chúa thương chữa lành các bệnh tật ngươi.
Chúa cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt.
Chúa bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà.
Chúa ban cho đời ngươi biết bao hạnh phúc.
Chúa khiến tuổi xuân ngươi mạnh  mẽ tựa chim bằng.
Chúa phân xử công minh, bênh quyền lợi những ai bị áp bức”.
Tôi áp dụng mỗi việc trên đây vào cuộc đời của tôi, tôi còn thấy nhiều việc khác nữa. Tôi nhận ra tình yêu Chúa dành cho tôi thực là đặc biệt sống động, đặc biệt riêng tư.
5. Tôi tiếp tục đọc tâm tình của vua David. Ngài nhìn Chúa thế nào, khi Chúa đã thương ngài như thế.
“Chúa là Đấng từ bi nhân hậu,
Người chậm giậngiàu tình thương.
Chẳng trách cứ luôn mãi.
Không oán hờn mãi mãi.
Người không cứ tội ta mà xét cử.
Không trả báo ta xứng với lỗi  lầm”.
Thánh vịnh ca tụng Chúa đã là như thế, và luôn luôn sẽ mãi là như thế. Tôi thấy rất đúng. Chúa đã đối xử với tôi như vậy.
Tôi rất xúc động cách riêng với hai câu này:
“Chúa không cứ tội ta mà xét xử.
Chúa không trả báo ta xứng với lỗi lầm của ta”.
Thực vậy, nếu không như thế, thì tôi đâu có ngày hôm nay.
6. Tình Chúa xót thương thực khó tả. Thánh Vịnh đưa ra 3 hình ảnh:
“Như trời cao trổi cao hơn mặt đất,
Tình Chúa thương kẻ thờ Người cũng trổi cao.
Như đông tây cách xa nhau ngàn dặm
Tội ta phạm, Chúa cũng ném xa ta.
Như người cha chạnh lòng thương con cái.
Chúa cũng chạnh lòng thương kẻ kính tôn”.
Riêng tôi, tôi thích nhất hình ảnh người cha. Tất nhiên người cha nói đây là người cha nhân ái, mà Chúa Giêsu gọi là mục tử nhân lành:
“Tôi là mục tử nhân lành.
Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống cho đoàn chiên” (Ga 10,11).
Tôi nhìn Chúa và cảm tạ Chúa.
Chúa Giêsu trên thánh giá nhìn tôi. Người không nói gì, nhưng cái nhìn của Người đã đốt lên trong tôi lửa biết ơn đối với tình yêu mà Ngài dành cho tôi. Người đã hy sinh mạng sống vì tôi.
7. Mà tôi có đáng gì đâu! Thánh Vịnh gợi ý cho tôi thấy tôi là kẻ yếu đuối, hèn mọn. Đây là hai hình ảnh về tôi, theo Thánh Vịnh:
“Hẳn Chúa biết: Ta chỉ là cát bụi.
... Tươi thắm như cỏ nội hoa đồng
Một cơn gió thoảng là xong.
Chốn xưa mình ở cũng không biết mình”.
Tuy vậy, lòng Chúa xót thương vẫn âu yếu tôi một cách hết sức đặc biệt.
8. Cảm nhận được điều đó, tôi ca tụng Chúa hết lòng. Việc ca tụng, mà Chúa chờ đợi nơi tôi hơn cả, là hãy sám hối và bác ái.
Tôi sám hối vì đã hờ hững đối với những gì tình yêu thương xót Chúa đã dành cho tôi, tôi đã không đáp trả.
9. Một điều quan trọng Chúa muốn tôi thực hiện để đáp trả, là hãy xót thương  người khác như Chúa đã xót thương tôi.
“Ai yêu mến Thiên Chúa,
Thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4,21).
“Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì. Đó là Đức Kitô đã thí mạng sống vì chúng ta, như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng sống vì anh em.
Nếu ai có của cải thế gian, và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được” (1 Ga 3,16-17).
10. Như vậy, theo lời Chúa dạy thì ca tụng ngợi khen Thiên Chúa giàu lòng thương xót đòi tôi hãy sống bác ái đối với người khác. Bác ái đến mức sẵn sàng đổ máu, hy sinh vì anh em, và cũng sẵn sàng đổ mồ hôi, tình yêu và của cải ra để cứu anh em.
Chúa nói rất rõ giá trị của những việc bác ái tôi làm cho người khác: “Mỗi lần các con làm bác ái cho một người trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các con đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).
11. Trên đây là vắn tắt những gì Chúa dạy tôi về sự phải làm chứng cho Chúa tại Việt Nam hôm nay.
Tôi coi những gì Chúa dạy tôi trên đây là một ân huệ rất cao quý Chúa ban cho tôi. Tôi quyết tâm thực hiện, cho dù phải từ bỏ mình rất nhiều.
Tôi hay hỏi ý hai thánh tử đạo của giáo phận Long Xuyên là Cha Phêrô Đoàn Công Quý và ông câu Emmanuel Lê Văn Phụng về mục vụ của tôi tại địa phương này.
Luôn luôn tôi được các ngài khuyên bảo và khích lệ về từ thiện bác ái, trong đó hãy đặc biệt lo cho các gia đình được đạo đức, biết xây dựng cuộc sống vật chất và tinh thần sao cho tốt với đạo, với đời. Tôi xin hết lòng cảm ơn hai thánh thân yêu.
12. Xin lưu ý là: Cũng như nơi hai thánh, nơi tôi bác ái đối với người khác đã bắt nguồn từ lòng mến đối với Chúa. Tiến trình được diễn tả qua sự đến với Chúa. Thánh Vịnh 103 (102) là một gợi ý.
Nhờ lòng mến Chúa, tôi mới có sức vượt qua được biết bao khó khăn trên đường sống bác ái đối với người khác. Bởi vì, rất nhiều trường hợp, sống bác ái đối với người khác cũng là một thứ tử vì đạo không đổ máu.
Để kết, tôi mong muốn mỗi người chúng ta được luôn là bài ca bác ái của thánh Phanxicô:
“Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa...”.


GM. GB. Bùi Tuần
Long Xuyên, ngày 30.7.2014.

Chủ Nhật, 20 tháng 7, 2014

SUY THOÁI ĐỜI SỐNG NỘI TÂM


1.
Hiện giờ, sức khoẻ của tôi suy giảm rõ rệt. Nếu không chống gậy và không có người dắt, tôi dễ bị vấp ngã khi đi. Nếu không dọn sẵn và không có người nhắc, tôi dễ uống lầm thuốc và sai giờ.
Từ sự suy thoái về sức khoẻ thân xác, tôi nghĩ tới sự suy thoái về sức khoẻ tâm hồn.
Sức khoẻ tâm hồn có thể suy thoái về nhiều lãnh vực. Ở đây, tôi chỉ xin đề cập tới vài lãnh vực, mà tôi cho là quan trọng hơn.
2.
Thứ nhất là suy thoái về khả năng suy nghĩ điều cần suy nghĩ nhất.
Theo tôi, điều cần suy nghĩ nhất chính là tình yêu gồm mến Chúa và thương người. Đó là đề tài do Chúa dạy. Tôi phải hiểu đúng ý Chúa, dựa trên Phúc Âm.
Mến Chúa yêu người, đó là điều căn bản quan trọng nhất và lớn hơn hết, mà mọi người phải giữ để được rỗi linh hồn. Chúa Giêsu phán: “Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn lớn nhất và điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả luật Môisê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy” (Mt 22,37-40).
3.
Là người tín hữu, tôi phải biết suy nghĩ thế nào là mến Chúa, thế nào là yêu người. Không có khả năng suy nghĩ điều cần đó, hay đánh mất khả năng suy nghĩ điều cần đó, sẽ là cực kì tai hại. Nhất là khi tôi lại còn là người mục tử. Thực tế cho thấy tình hình cực kì tai hại đó đang xảy ra nơi nhiều người, nhiều nơi trong Hội Thánh tại Việt Nam.
4.
Suy nghĩ về mến Chúa yêu người được Chúa Giêsu dạy bằng lời giảng và bằng gương sáng đời sống của Người. Tránh hết sức lối mến Chúa yêu người chỉ bằng hình thức, phô trương, chỉ bằng lời nói hào nhoáng cao vời, chỉ theo ý riêng tìm tư lợi. Nhưng phải thực sự có lửa Chúa Thánh Thần bên trong từng chi tiết mọi việc lớn nhỏ đối với Chúa và đối với mọi người.
5.
Khi thực sự có lửa Chúa Thánh Thần trong tâm hồn, người tín hữu sẽ cảm thấy phải rất khiêm tốn, khi được dấn thân vào mọi việc vui buồn của Nước Chúa, chỉ vì vâng phục ý Chúa. Tôi còn khả năng suy nghĩ như thế không? Hay tôi tự hào khoe khoang chức dấn thân khiêm tốn ấy bằng những nghi lễ tạ ơn hoành tráng, tiệc tùng linh đình.
6.
Tôi không nên trả lời một cách chủ quan. Hãy đọc lại lời Chúa Giêsu phán sau đây: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng nhân danh Thầy mà nói tiên tri, mà trừ quỷ, mà làm nhiều phép lạ đó sao? Bấy giờ Ta sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi. Hãy xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác” (Mt 7,21-22). Cứ theo bề ngoài, người ta có lý để coi những người làm các việc đạo đức bên ngoài trên đây là để mến Chúa yêu người. Thế nhưng Chúa nhìn thấu suốt bên trong, thì thấy họ làm các việc đó vì mục đích tư lợi theo ý riêng, chứ không theo ý Chúa. Do đó, mà Chúa gọi họ là bọn gian ác. Xét mình, tôi thấy: Nếu không tỉnh thức, tôi cũng dễ rơi vào loại người bị Chúa chúc dữ như thế.
7.
Thứ hai là suy thoái về khả năng phân định đúng sai.
Sống là một chuyến đi giữa muôn mời gọi, giữa trăm ngả đường. Để tới đích là về với Cha trên trời, tôi phải biết phân định điều đúng nên chọn, điều sai nên tránh, đường nào dẫn tới sự sống đời đời thì đi, đường nào dẫn tới diệt vong muôn đời thì bỏ. Phân định đó là vô cùng quan trọng.
8.
Để biết chọn và dám chọn như thế, người tín hữu phải có một đời sống nội tâm dồi dào. Nhờ đó, mà có một sự phân định đúng sai ngay từ một nội tâm biết nhìn mọi sự bằng cái nhìn của trái tim Chúa.
Rất nhiều khi, phân định đó không do lý luận, mà do trực giác, vừa thấy là biết liền. Tôi nghĩ, sở dĩ được như thế là do kết hợp chặt chẽ với Chúa nhờ đức mến. Do đó, thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy tha thiết tìm ơn cao trọng nhất, trổi vượt hơn cả, đó là đức mến. Ngài nói:
“Giả như tôi nói được các thứ tiếng, của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng.
Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và biết được mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì.
Giả như tôi có đem hết gia tài mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (1 Cr 13,1-3).
9.
Khi biết phân định lửa đức mến là cao quý và cần thiết nhất cho việc tu đức cũng như cho việc truyền giáo, thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã chọn con đường tình yêu. Phải nói đúng sự thực: Chọn lựa của thánh nữ là do Chúa. Chúa ban ơn cho thánh nữ, vì thánh nữ sống khiêm nhường, nghèo khó và bé nhỏ. Ngài chỉ ở trong nhà dòng, sống mọi giây phút cho tình yêu, thế mà ngài đã đổi mới được biết bao tâm hồn. Ngài được tôn vinh là một trong các thánh Quan thầy các nhà truyền giáo. Tôi có đức mến thực sự không? (x. 1Cr,4-7)
10.
Kinh nghiệm cho tôi thấy:
Suy thoái về khả năng suy nghĩ điều cần suy  nghĩ nhất, tức là tình yêu mến Chúa yêu người, rất dễ xảy ra cho tôi.
Suy thoái về khả năng phân định tốt xấu, để khẳng định đức mến là trên hết, cũng rất dễ xảy ra cho tôi.
Những nguyên do gây nên những suy thoái đó là khá nhiều. Như thiếu tỉnh thức, thiếu cầu nguyện, thiếu phấn đấu.
Một nguyên do quan trọng thiết tưởng cũng nên nói ra, đó là dư luận cả trong đạo lẫn ngoài đời đều coi là bình thường những suy thoái đó. Nếu dư luận xấu đó lại có phần của các vị đứng đầu trong đạo, thì tình hình suy thoái đạo đức sẽ rất trầm trọng. Tôi có góp phần nào vào dư luận xấu đó không?
11.
Tính cách trầm trọng về sự suy thoái đạo đức xem ra đang xảy ra. Phải nhận là tình hình đạo đức suy thoái trầm trọng bắt nguồn từ sự suy thoái về đời sống nội tâm.
Đời sống nội tâm suy thoái, mà không nhận ra. Hoặc cho dù có nhận ra, những người có trách nhiệm lại tránh né giải quyết sự suy thoái đó. Hơn nữa, lại chấp nhận sự suy thoái đó bằng cách bình thường hoá nó, hoặc che giấu nó bằng những hoạt động bên ngoài vô bổ, hay đạo đức giả hình.
Lạy Chúa, xin thương xót con. Xin giúp con sám hối trở về với Chúa. Con là kẻ rất hèn hạ và yếu đuối.

GM. GB. Bùi Tuần
Long xuyên, ngày 19.7.2014

Thứ Sáu, 18 tháng 7, 2014

XIN CHO CON BIẾT ĐÓN NHẬN ƠN TRỞ VỀ


1.
Những ngày này, tôi như chán sống. Tôi nghĩ thế theo tính tự nhiên. Tôi cảm thấy cuộc sống nơi tôi không còn gì gọi được là niềm vui. Thân xác đau, tâm hồn đau, đời sống tự nhiên đau, đời sống siêu nhiên cũng đau. Tôi sống đúng hướng là do đức tin. Nhưng sống đức tin lúc này là như bước đi trong tối tăm. Nhưng nhờ đức tin, tôi tuyệt đối vâng phục Ý Chúa.
2.
Đang khi đó, trong giáo phận tôi xuất hiện nhiều tổ chức vui. Đặc biệt là lễ phong chức linh mục cho 19 ứng viên, rồi sau đó là những lễ tạ ơn đầy hân hoan. Những lễ này đã được chuẩn bị và đã được thực hiện với những thiện chí và tinh thần trách nhiệm đối với tục lệ và tình nghĩa.
3.
Với tình trạng chán sống, tôi nhìn diễn tiến những lễ long trọng đó, mà thầm mong có chút gì linh thiêng từ đó đem lại cho tôi sự bình an, để tôi bớt nặng nề. Nhưng thực sự tôi không nhận được tín hiệu lạc quan, trái lại tự nhiên tôi lại thêm lo, mặc dù tôi rất thương mến các tân linh mục của tôi.
Tôi tưởng là bế tắc. Nhưng đột nhiên, Chúa gửi đến cho tôi vài người lạ. Họ rất bình thường. Họ không làm gì, không có chức tước gì, không cho tôi quà vật chất nào. Nhưng sự hiện diện chốc lát của họ bên tôi làm tôi cảm thấy như Chúa nói với tôi rằng: “Cha ở bên con”. Tôi tự nhiên cảm thấy rất vui và được bình an. Thêm vào đó, họ gợi lên trong tôi niềm khát khao được thuộc trọn về Chúa.
4.
Không còn gì để nghi ngờ là Chúa đã đến với tôi qua trung gian những con người bình dị ấy. Tôi thấy mình được an tâm hơn. Bởi vì tôi cảm thấy trái tim Chúa ở trong tôi, Người đốt lên trong tôi lửa phó thác bầng bầng giúp tôi trở thành của lễ.
5.
Khi xảy ra như vậy, tôi tự hỏi: Tại sao những lễ linh đình trọng thể phong chức linh mục và tạ ơn tưng bừng lại không gây được cho tôi những ủi an và khích lệ cần thiết của Chúa, để tôi vui sống, nhưng tôi lại nhận được những ủi an đó của Chúa từ những người khác?
Câu hỏi trên đây không đòi tôi phải tìm trả lời, mà đòi tôi hãy cầu nguyện nhiều hơn cho mọi người mang chức thánh tại Việt Nam hôm nay, trong đó có tôi. Họ rất đáng thương.
6.
Khi cầu nguyện cho các tư tế tại Việt Nam hôm nay, tôi thấy hiện lên một điều Chúa mong muốn hơn cả, đó là các ngài hãy thực sự được Thánh Thần của Đức Kitô  hướng dẫn. Bởi vì đã đến lúc Satan không dùng những người ngoài Hội Thánh để chống phá Nước Trời, mà nó dùng chính những người trong Hội Thánh, để làm việc đó. Hơn nữa, Thánh Gioan Tông đồ viết: “Giờ đây, nhiều tên phản Kitô đã xuất hiện..... Chúng xuất hiện từ hàng ngũ chúng ta” (1Ga 2, 18). Thời Thánh Gioan Tông đồ đã xảy ra như thế. Thời nay nếu cũng xảy ra như vậy, thì đâu có gì lạ. “Nhiều tên” nghĩa là con số phản Kitô không phải nhỏ.
7.
Điều làm tôi ngạc nhiên là những kẻ phản Chúa lại xuất hiện từ hàng ngũ những người đã được Chúa chọn và được Chúa trao trách nhiệm. Ngạc nhiên của tôi được Chúa giải thích bằng sự kiện trong Phúc âm. Phúc âm cho thấy Chúa Giêsu trao chức thánh cho 12 tông đồ, nhưng trong số 12 người ấy, có một kẻ sau đó đã ra hư hỏng, ông phản Chúa, bán Chúa. Ông là Giuđa. Xét cho cùng, Giuđa đã ra hư, là vì mặc dù được Chúa chọn, ông vẫn không luôn vâng lời Chúa mà bước theo đường hẹp, nhưng thích chọn đường rộng rãi thênh thang. Kết quả là đưa tới diệt vong. Chúa phán: “Hãy qua cửa hẹp mà vào Nước Trời, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật, thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7,13-14).
8.
Lời Chúa phán trên đây làm tôi sợ cho tôi và cho những người được Chúa chọn và trao trách nhiệm. Sợ ở chỗ chúng tôi rất dễ trẽ sang cửa rộng và đường thênh thang. Trẽ những lúc không ngờ, do tự tín, do chủ quan, do áp lực, do mù quáng, do yếu đuối. Thế rồi, hư hỏng này tiếp nối hư hỏng kia, mà không biết dừng lại. Hơn nữa lại tự đeo vào mình những hào quang giả tạo. Tôi lo sợ. Biết đâu mang chức thánh, mà không mang Chúa! Biết đâu chức thánh lại chứa đựng trong những chiếc bình sành đã vỡ vụn!
9.
Nhưng lạ lùng thay!  Trong số những người tôi tưởng là đã chìm sâu trong vực thẳm hư hỏng, lại bất ngờ nổi lên như những gương sáng về sự được ơn trở về.
Hiện nay ơn trở về đang được Chúa ban cho nhiều người một cách lạ lùng. Họ cũng đón nhận ơn trở về một cách lạ lùng.
Có những người đã ngã nay được ơn đứng dậy.
Có những người nguội lạnh nay được ơn sốt sắng.
Có những người đã tốt nay được ơn tốt hơn.
Hình như mỗi người ấy đều được ơn trở về riêng tư, chỉ mình họ và Chúa biết. Trường hợp của tôi cũng vậy. Vì thế, tôi vững tin rằng: Chúa đang và sẽ ban ơn trở về cho rất nhiều người, mặc dù tình hình xem ra đang bị tội lỗi khống chế nặng nề khủng khiếp.
10.
Riêng tôi, ơn trở về đi kèm với những đau đớn. Tôi đón nhận ơn trở về như thế với nhận thức lời Chúa dạy: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thánh giá mình mà theo Ta”     (Mt 17,24 ). Như vậy, đớn đau tất nhiên phải có do từ bỏ và thánh giá. Những đớn đau ấy sẽ có lợi lớn, bởi vì “ Nếu người ta được cả thế gian mà phải mất linh hồn, thì nào có lợi ích gì” (Mt 17,26). Thành ra đau đớn trở thành một niềm vui thiêng liêng. Nhưng được như vậy, cần có ơn Chúa. Những giúp đỡ của các người tốt cũng là những đỡ nâng quý giá.
11.
Kinh nghiệm của tôi về những đớn đau đến nỗi chán sống bây giờ được tôi nhận ra như một ơn Chúa. Nó giúp tôi hiểu tôi là kẻ yếu hèn. Nó giúp tôi thương cảm với những người đau khổ. Nó giúp tôi tìm đến với Chúa. Nó giúp tôi chia sẻ chân thành với các người mang chức thánh.
Với kinh nghiệm bản thân, càng ngày tôi càng thấy mình có bổn phận phải gánh tội và đền tội thay cho đoàn chiên, như Chúa Giêsu đã làm. Triển khai nhận thức đó sẽ giúp tôi phấn đấu và tỉnh thức, cầu nguyện để có những lựa chọn đúng trong việc dùng thời giờ và các điều kiện mình có, hầu có thể dấn thân vào việc cứu đoàn chiên khỏi sa lưới Satan, kéo xuống hỏa ngục.
Đó chính là ơn trở về mà Chúa đang ban cho tôi do lòng thương xót Chúa. Xin hết lòng cảm tạ Chúa.

                                      
  + GB. Bùi Tuần
 Long Xuyên, ngày 29. 6. 2014

Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

TRÌU MẾN NHỚ VỀ ĐỨC THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II

TRÌU MẾN NHỚ VỀ  
ĐỨC THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II 


1. Đời tôi được gặp nhiều người tốt. Những người tốt ấy đã góp phần đào tạo con người tôi. Trong số những người đáng kể nhất, có một người hiện nay đã được phong thánh. Đó là Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.
Đức Thánh Gioan Phaolô II đã ảnh hưởng nhiều đến tôi, không những do những thông điệp, huấn từ, quyết định của Ngài, mà nhất là do những liên hệ trực tiếp mà Ngài đã dành cho tôi.
2. Tôi được trực tiếp nói chuyện với Ngài nhiều lần ở bàn giấy của Ngài, ở bàn ăn của Ngài, ở những hành lang cạnh nhiều hội nghị. Nhưng chính khi được đứng bên Ngài để cùng Ngài dâng thánh lễ, tôi đã thực sự được Ngài kéo tôi lên với Chúa.
Khi đứng bên Ngài để đồng tế, tôi được nghe giọng Ngài nói, thấy khuôn mặt của Ngài, đôi khi được cảm thấy hơi thở của Ngài. Qua những gì được cảm thấy, được xem thấy, được nghe thấy, tôi rất xúc động chứng kiến Đức Thánh Cha gặp gỡ Chúa một cách thân mật.
3. Giờ phút Đức Thánh Cha gặp gỡ Chúa trong thánh lễ bỗng trở thành linh thiêng khác thường, do sự thánh thiện của Đức Thánh Cha toát ra.
Những giây phút ấy, tôi như quên hết mọi sự, chỉ còn đắm mình vào tình yêu Chúa mà thôi.
Sau này, nhất là hiện giờ, khi một mình nhìn lại, tôi mới ghi nhận được khá rõ những ơn đặc biệt, Chúa đã ban cho tôi, nhờ sự thánh thiện của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong thánh lễ. Xin được phép kể ra sau đây.
4. Ơn thứ nhất là ơn quan tâm nhiều hơn đến đời sống chiêm niệm.
Trong thánh lễ, Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II toả ra qua thân xác, nhất là qua khuôn mặt của Ngài, một sự sống chiêm niệm sâu thẳm lạ lùng.
Tôi thấy chiêm niệm nơi Ngài là cung kính ngắm nhìn Chúa, là tập trung lắng nghe Chúa, là khiêm tốn vâng phục ý Chúa. Nhìn Ngài chiêm niệm, tôi như được lôi cuốn theo, để tìm gặp Chúa là Đấng thiêng liêng sống động, vô cùng yêu thương, vô cùng quyền năng. Tôi khao khát thuộc về Chúa. Tôi nhớ lại lời Chúa Giêsu phán xưa: “Thầy là cây nho, các con là cành. Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái. Vì không có Thầy, các con chẳng làm gì được” (Ga 15,5).
Chiêm niệm nơi Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, mà tôi đã được chứng kiến, giúp tôi xác tín về sự quan trọng của chiêm niệm trong đời tông đồ của tôi.
5. Ơn thứ hai là ơn quan tâm nhiều hơn đến việc sám hối.
Ngay từ đầu thánh lễ, Đức Thánh Giáo Hoàng đã tự giới thiệu mình là kẻ có tội. Ngài đọc kinh “Sám hối” một cách rất khiêm nhường và xác tín. Đứng bên cạnh Ngài lúc đó, tôi có cảm tưởng là Ngài không thực hiện một lễ nghi, mà là thực hiện một sự hoán cải trở về với Chúa một cách hồn nhiên do động lực của tình yêu chân thành tha thiết. Tôi nhớ lại lời thánh Gioan tông đồ: “Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, thì chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta. Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi, thì Thiên Chúa là Đấng trung thành và công chính sẽ tha tội cho chúng ta, Người sẽ thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính” (1 Ga 18-9).
Sám hối của Đức Thánh Gioán Hoàng là cậy tin vào Đức Giêsu Kitô, như lời thánh Gioan tông đồ dạy: “Nếu ai phạm tội, thì chúng ta có một Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha, đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng công chính. Chính Đức Giêsu Kitô đã là của lễ đền tội cho chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn vì tội lỗi cả thế gian nữa” (1 Ga 2,1).
Sám hối của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là không những xin Chúa tha tội, mà còn là xin lỗi người khác. Trong cuốn sách “Khi Đức Giáo Hoàng xin lỗi”, tác giả Luigi Accattoli, đã kể ra 21 vụ việc trong lịch sử, mà Đức Thánh Giáo Hoàng xét thấy là Hội Thánh Công giáo đã phạm sai lầm, và Ngài đã công khai lên tiếng xin lỗi.
6. Ơn thứ ba là sự quan tâm nhiều hơn đến việc hy sinh cho đoàn chiên.
Được đứng bên Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong thánh lễ, tôi rất xúc động, khi thấy chính bản thân Ngài là một của lễ hy sinh cho đoàn chiên.
Xưa, Chúa Giêsu phán: “Tôi là mục tử tốt lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi. Như Chúa Cha biết tôi và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,14). Hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên, đó là điều tôi đã thấy nơi Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ngài hy sinh suốt đời, hy sinh từng ngày, từng giờ, từng phút. Điều đó đã dạy tôi rất nhiều, nhất là trong những khi tôi gặp phải những đớn đau, trắc trở, và cả trong việc dùng thời giờ và các phương tiện, sao cho cớ sự hãm mình, vì phần rỗi của đoàn chiên.
7. Đứng bên cạnh Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, tôi thấy khá rõ những dấu tích nơi Ngài, như những thương tích của một của lễ Ngài dâng cho Chúa, để thông phần vào của lễ Chúa Giêsu dâng, trong chương trình đền tội cho nhân loại. Thánh lễ bàn thờ của Ngài là một của lễ hy sinh. Thánh lễ cuộc đời của Ngài cũng là một của lễ hy sinh. Tôi được gương sáng đó của Ngài khích lệ rất nhiều.
Gương sáng của Ngài dạy tôi phải phấn đấu không ngừng. Một đời sống an phận, vô cảm sẽ có lúc xảy đến cho tôi, nếu tôi không tỉnh thức, càu nguyện và phấn đấu.
8. Với ba ơn trên đây mà tôi nhận được từ Chúa, qua gương sáng Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, tôi xác tín vai trò gương sáng của các mục tử là rất quan trọng.
Hiện nay, gương sáng về đời sống chiêm niệm, đời sống sám hối, đời sống hy sinh cho đoàn chiên đang là một đòi hỏi khẩn thiết mà Chúa đặt ra cho các mục tử. Nhân loại đang rất cần những mục tử như vậy. Việt Nam đang rất chờ những mục tử như thế.
Lạy Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, con tin Ngài đang ở bên Chúa trên thiên đàng, xin Ngài thương tiếp tục dẫn đưa con trên đường ơn gọi làm người mục tử tại Việt Nam hôm nay. Con yếu đuối lắm, xin Ngài đỡ nâng con.
Xin Ngài cũng nhìn đến hoàn cảnh đạo đức đang xuống dốc tại nhiều nơi trong Hội Thánh Việt Nam, để cầu xin Chúa thương cứu. Con tin  chỉ có Chúa mới cứu được. Con xin tạ ơn Chúa.

GM. Gioan B. Bùi Tuần

               Long Xuyên, ngày 24 tháng 6 năm 2014