Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2015

NỖI LO LỚN NHẤT TRONG ĐỜI TÔI


1. Đời tôi là quãng thời gian tương đối dài. Bước sang năm 2015, tôi được 89 tuổi. Trong dòng đời với nhiều chuyển biến ấy, có 60 năm là giáo sĩ mang chức linh mục, rồi mang thêm chức giám mục tới nay được 40 năm.
Như vậy quãng 60 năm qua là mảnh đời quan trọng nhất đối với tôi.
2. Hôm nay, nhìn lại dòng đời quan trọng đó để tạ ơn Chúa, tôi thấy có một nỗi lo lớn đã đồng hành với tôi một cách khăng khít. Chúa dạy tôi là đừng ngại nói ra cho mọi người biết nỗi lo đó. Xin nói ngay nỗi lo đó là làm sao luôn sống mật thiết với Chúa Giêsu. Nỗi lo ấy rất sống động. Tôi xin phép chia sẻ đôi chút về sức sống thăng trầm của nỗi lo ấy trong một quá khứ không thiếu đủ thứ chuyển biến.
3. Tôi thụ phong linh mục ngày 02.7.1955 tại nhà nguyện các cha dòng Đaminh ở HongKong.
Chính khuya đêm mồng một trước lễ truyền chức, tôi đã âm thầm xin được gặp cha linh hồn, tức cha Valderama Xuyên. Tôi xin ngài cho phép tôi được rút lui, khỏi bước lên nhận chức linh mục. Lý do là tôi quá lo, vì thấy mình bất xứng bất tài. Lúc đó, tình hình đất nước còn ngổn ngang những hận thù. Chúa cho tôi thấy: Làm linh mục cho Việt Nam lúc ấy là phải làm chứng cho tình yêu Chúa. Tôi sẽ làm chứng thế nào đây. Tôi thấy mình quá yếu đuối, sợ không thể làm gì được đúng theo ý Chúa. Vì thế, tôi xin phép được rút lui.
Cha linh hồn nghe hết nỗi lo của tôi. Rồi ngài bình tĩnh trấn an tôi. Sau cùng, ngài nói như trao một quyết định là hãy phó thác cho Chúa, mà vâng nhận chức linh mục.
Lễ phong chức linh mục được tổ chức một cách âm thầm, đơn sơ, rất sốt sắng.
4. Sau đó, tôi được trở về miền Nam Việt Nam. Thánh lễ đầu tiên của tôi được tổ chức tại nhà thờ Long Phước Thôn, Thủ Đức, thuộc trại di cư khó nghèo, ngày 11.7.1955.
Nửa giờ trước thánh lễ, tôi xin xưng tội với Cha Minh Đăng ngay tại phòng áo cung thánh. Ngài gợi ý cho tôi là làm chứng cho tình yêu Chúa trong tình hình cụ thể tại Việt Nam lúc nàyhãy ưu tiên sống mật thiết với Chúa Giêsu. Trong tâm tình đầy yêu thương, ngài khuyên tôi hãy luôn đánh thức lương tâm các linh mục Việt Nam, để các ngài coi việc sống mật thiết với Chúa Giêsu là việc không gì thay thế được. Nếu cần đánh thức một cách quyết liệt, thì chính ngài và tôi hãy sẵn sàng được chết một cách đau đớn theo ý Chúa.
Trong thánh lễ đầu tiên, tôi dâng mình cho Chúa với quyết tâm sống mật thiết với Chúa Giêsu, như một của lễ.
5. Ngày 30.4.1975, tôi thụ phong Giám mục lúc tình hình thay đổi khó lường. Khi Đức Cha Cố Micae Nguyễn Khắc Ngữ an ủi tôi hãy vâng phục ý Chúa mà lãnh nhận trọng trách Giám mục, tôi không vui chút nào. Nỗi lo dâng trào. Tôi nhìn rõ tôi sẽ chẳng làm được gì cho giới răn yêu thương, nếu không sống mật thiết với Chúa Giêsu. Nhưng tôi quyết tâm như một trẻ thơ.
6. Quyết tâm đó là một niềm vui, nhưng cũng là một nỗi lo. Càng ngày, tôi càng thấy sống mật thiết với Chúa Giêsu không phải là điều dễ.
Chúa Giêsu dạy: “Thầy là cây nho, các con là ngành nho. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái. Vì không có Thầy, các con không làm gì được” (Ga 15,5). Tôi hiểu Chúa muốn tôi phải sống mật thiết với Chúa như vậy. Phải luôn luôn như vậy, để mọi việc tôi làm mới sinh được kết quả đích thực mà Chúa muốn. Lời Chúa trên đây thực rõ ràng, thực dứt khoát.
Thế mà, Lời Chúa đầy tha thiết đó đã nhiều khi chỉ là một lý thuyết suông đối với nhiều người, kể cả những người đi tu, thậm chí kể cả những người muốn làm linh mục hay đã là linh mục.
7. Cho rằng lý thuyết ấy đã có lúc thâm nhập vào con người muốn theo Chúa một cách đặc biệt, nhưng trên thực tế, sự thâm nhập vào con người mà thôi, đâu đã đủ để thành sự sống thân mật với Chúa Giêsu. Bởi vì sự sống thân mật với Chúa Giêsu là một ơn đặc biệt Chúa ban. Ơn ấy biến đổi con người nên gần gũi với Chúa, biết vâng phục ý Chúa, trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa. Con người ấy cần biết đón nhận ơn cao quý đó, và cần biết cộng tác vào ơn đặc biệt đó.
8. Kinh nghiệm cho tôi thấy: Nếu thiếu đời sống cầu nguyện, suy gẫm, không quen tự chế, từ bỏ mình và khiêm tốn, thì không thể nào có thể đón nhận được ơn sống thân mật với Chúa, và không thể nào cộng tác với ơn sống mật thiết với Chúa được.
9. Tôi được hạnh phúc gặp Đức thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhiều lần. Điều đã gây ấn tượng nhất nơi tôi những khi gặp Ngài là thấy Ngài sống mật thiết với Chúa Giêsu. Trong thánh lễ, ở bàn giấy, cả tại bàn ăn, Ngài luôn luôn toả ra một sức thu hút lạ lùng, do sự Ngài luôn sống thân mật với Chúa Giêsu. Ngài không hề khuyên dạy tôi điều gì, mặc dầu tôi đã gặp riêng Ngài nhiều lần. Nhưng, Ngài đã dạy tôi rất nhiều, do sự thu hút từ đời sống thân mật của Ngài với Chúa Giêsu.
10. Mấy ngày nay, tôi cầu nguyện với Đức Mẹ rất nhiều. Tôi đọc kinh: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội”. Tôi rất vui, vì Đức Mẹ đã nhìn đến thân phận tội lỗi của tôi. Mẹ đã cầu bầu với Chúa cho tôi. Tôi hiểu điều đó, khi Mẹ dạy tôi là: “Lúc này, trong tình hình này, sống mật thiết với Chúa Giêsu, là hãy ở bên Chúa trong vườn Cây Dầu, hãy bước theo Chúa trên đường Chúa vác thập giá, hãy đứng dưới chân thánh giá khi Người chịu đóng đinh và hấp hối trên thánh giá. Có sống mật thiết như thế với Chúa Giêsu, thì mới thực sự cộng tác với Người để cứu nhân loại nói chung, và đồng bào Việt Nam nói riêng đang hết sức lâm nguy”.
11. Khi được Đức Mẹ dạy tôi điều trên đây, tôi mới thấy là những người muốn theo Chúa phải rất tỉnh thức khiêm nhường, để can đảm sống mật thiết với Chúa đang chịu thương khó trong lịch sử hôm nay. Như vậy thì phải can đảm điều chỉnh lại mọi thứ hoành tráng, phô trương, đắc thắng, hưởng thụ, sang trọng, lộng lẫy, vẻ vang, an nhàn.
12. Bây giờ, khi được chia sẻ một chút như trên, tôi cảm thấy nhẹ nhàng. Bởi vì nỗi lo lớn nhất đời tôi nay trở thành một lời mời gọi gửi tới mọi người, đặc biệt là gửi tới các linh mục và các người đi tu: “ Hãy sống mật thiết với Chúa Giêsu”. Tình hình 2015 sẽ rất khó khăn, đầy thử thách và bất ngờ. Chỉ sống mật thiết với Chúa Giêsu mới có thể gọi là những môn đệ đích thực cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa. Chia sẻ hôm nay cũng là đón nhận niềm vui sẽ được ơn tha thứ từ Chúa, từ Hội Thánh, từ bao người, bởi vì tôi nhận biết mình đã có những lỗi lầm, thiếu sót trong bổn phận làm chứng cho tình yêu Chúa bằng sự sống mật thiết với Người.

Long Xuyên ngày 01.1.2015

PHÉP RỬA ĐANG RỬA NHIỀU MÔN ĐỆ CHÚA TẠI VIỆT NAM HÔM NAY



1.
Những ngày Tết, tôi được vui hưởng biết bao cái đẹp. Đẹp ở thiên nhiên, đẹp ở nhà cửa, đẹp ở phố phường đường xá, đẹp ở các cuộc vui, đẹp ở các lời mừng chúc và viếng thăm.
2.
Nhưng, nếu hỏi: Cái gì được gọi là đẹp nhất? Thì tôi sẽ thưa: Đẹp nhất là những con người có cái tâm đẹp. Tôi tạm đưa ra vài hình ảnh.
Cái tâm đẹp là cái tâm sáng như bầu trời rạng đông, thơm tựa cánh đồng lúa chín hay vườn hồng bao la, mát như dòng suối luôn tràn nước dinh dưỡng cho mọi người và mọi môi trường.
Đó chỉ là hình ảnh mờ nhạt của cái tâm đẹp mang những giá trị thiêng liêng dẫn vào cõi hạnh phúc đời đời.
Cái tâm có những giá trị thiêng liêng vô giá là cái tâm rất đẹp. Cái tâm có một Đấng thiêng liêng vô cùng tốt đẹp hiện diện là cái tâm đẹp nhất.
3.
Tôi nghĩ như vậy. Tôi thấy như vậy. Khi tôi gặp những con người có cái tâm mang những giá trị thiêng liêng, và trong họ có Đấng thiêng liêng hiện diện, tôi cảm nhận rất rõ: Đây chính là một ơn huệ Chúa ban, và trong ơn huệ đó, tôi nhận ra Đấng ban ơn huệ. Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế đang đến với tôi. Người đến để cứu tôi.
4.
Chúa Giêsu cứu tôi thế nào? Chúa cho tôi nhớ lại lời thánh Phêrô nói: “Anh em hãy biết rằng: Không phải nhờ những của chóng hư nát như vàng hay bạc, mà anh em đã được cứu thoát khỏi lối sống phù phiếm do cha ông anh em truyền lại. Nhưng anh em đã được cứu chuộc nhờ máu châu báu của Con Chiên vẹn toàn, vô tì tích, là Đức Giêsu Kitô” (1Pr 1,18).
Với một cách tế nhị, Chúa dạy tôi thêm điều này: Để đón nhận ơn Chúa cứu tôi, và để cộng tác vào việc Chúa cứu tôi, thì một cách nào đó, tôi cũng phải như có một chút máu của chính mình pha vào máu của Chúa Giêsu.
5.
Hiểu như vậy là đã bắt đầu cầu nguyện. Tôi cầu nguyện để được can đảm bước theo Chúa Giêsu trên con đường đổ máu mình ra một cách nào đó âm thầm. Tôi bước từng bước.
Trong vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu lên cơn xao xuyến, bồi hồi, sợ hãi, đến nỗi “mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất” (Lc 22,44).
Khi những trường hợp nhiều ít tương tự như thế xảy ra cho tôi, tôi mới thấy đau đớn của Chúa Giêsu thực là kinh khủng. Cộng tác vào sự hy sinh đó của Chúa, chỉ một ít thôi, cũng chẳng dễ chút nào.
6.
Trong dinh tổng trấn Philatô, Chúa Giêsu bị đội mão gai, bị người ta khạc nhổ vào mặt, bị người ta đánh đập chế giễu (x. Mc 15,16-20).
Khi những trường hợp nhiều ít tương tự như thế cũng xảy ra cho tôi, tôi mới thấy sự nhục nhã khốn khổ Chúa phải chịu thực là khủng khiếp. Cộng tác vào sự hy sinh đó của Chúa, dù chỉ một chút nhỏ thôi, cũng không dễ chút nào.
7.
Trên Núi Sọ, Chúa Giêsu bị đóng đinh vào thập giá, giữa hai tên cướp (x. Mc 15,23-37).
Khi trường hợp nhiều ít tương tự như thế cũng xảy ra cho tôi, tôi mới cảm thấy thấm thía sự loại trừ man rợ Chúa phải chịu thực là hãi hùng. Cộng tác vào sự hy sinh đó của Chúa, dù chỉ một chút rất nhỏ, cũng không dễ chút nào.
8.
Trên thánh giá, Chúa Giêsu đã kêu lớn tiếng: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Cha nỡ bỏ con” (Mc 15,34).
Khi trường hợp nhiều ít như thế xảy ra cho tôi, tôi mới thấy sự cô đơn tăm tối Chúa Giêsu phải chịu thực là quá sức tưởng tượng. Cộng tác vào sự hy sinh đó, dù chỉ một chút rất nhỏ thôi, cũng không dễ chút nào.
9.
Trên thánh giá, trong đau đớn cực độ do người ta làm cho Người, Chúa Giêsu đã cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Và, trong cô đơn cực độ, như bị Chúa Cha bỏ rơi, Chúa Giêsu đã kêu lên “Con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).
Khi những trường hợp nhiều ít như thế xảy ra cho tôi, tôi mới thấy sự tha thứ cũng như sự phó thác của Chúa Giêsu, quả là những việc phi thường, vượt quá sức con người.
10.
Một thoáng trên đây cho thấy: Bước theo Chúa Giêsu trên đường thánh giá đúng là như chịu một phép rửa mới. Tôi tạm gọi như thế.
Phép rửa thứ nhất tôi đã được chịu khi còn bé, là phép Rửa bằng Nước.
Còn phép Rửa thứ hai tôi đang được chịu lúc này là phép Rửa bằng Máu. Máu đang rửa tôi là máu Chúa Giêsu. Còn máu tôi đổ ra chỉ là những hy sinh nhỏ bé, những từ bỏ mình hèn mọn, được pha trộn vào máu Chúa Giêsu. Được như vậy, là một vinh dự cho tôi.
Nhưng khi vinh dự là những đớn đau của thánh giá Chúa Giêsu, thì phải có ơn đặc biệt của Chúa mới hiểu được và mới vui nhận được.
11.
Tôi thấy, tại Việt Nam hôm nay, Chúa đang ban ơn đặc biệt đó cho nhiều người. Họ âm thầm thuộc về nhiều tầng lớp, rải rác khắp nơi. Họ như tự chôn vùi mình trong cuộc sống bình dị, theo gương Đức Mẹ và thánh Giuse.
Cái đẹp chung của họ là họ bước theo Chúa Giêsu, sống niềm hy vọng của thập giá Chúa Giêsu. Cái tâm của họ được rửa trong máu tình yêu thương xót Chúa. Cái tâm của họ mang những giá trị thiêng liêng có chiều kích đi về cõi Phúc đời đời. Cái tâm của họ có Đấng thiêng liêng hiện diện. Đấng ấy là tình yêu giàu lòng thương xót. Người là sự sống lại của họ.
Như vậy, chúng ta đã có thể tự do chọn hướng sống của chúng ta, cho dù tình hình xã hội đang diễn biến phức tạp. Chọn được từng ngày rửa mình bằng phép Rửa thứ hai, tức là phép Rửa của thập giá Chúa Giêsu là chọn cho mình niềm hy vọng vững bền và cũng là niềm vui vô giá. Chọn lựa đó rất có lợi cho mình, cho Hội Thánh và cho Quê Hương.
Xin hết lòng khiêm tốn cảm tạ Chúa giàu lòng thương xót.

Long Xuyên, ngày 14 tháng 2 năm 2014.

Lời đầu xuân mới CỦA LỄ HY SINH


1.
Dịp đầu Xuân mới này, tôi tha thiết xin Chúa ban cho tôi một Lời Chúa làm lộc Xuân. Lời Chúa như lộc Xuân, mà Chúa ban, được tôi coi như phương hướng tôi phải tập trung vào, để sống đức tin trong Năm Giáp Ngọ - 2014.
2.
Chúa soi vào lòng tôi Lời Chúa sau đây: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24).
3.
Lời Chúa trên đây có nhiều ý nghĩa. Nhưng ý nghĩa nổi nhất, mà Chúa kêu gọi tôi hãy đón nhận, đó là: tôi hãy nên của lễ hy sinh như Chúa muốn. Cụ thể như sau:
a) Hãy là của lễ hy sinh suốt đời, ở sự làm mọi việc lành và chịu mọi khổ đau với tinh thần sám hối đền tội. Bởi vì tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót.
b) Hãy là của lễ hy sinh suốt đời, ở sự dâng đời mình với những hy sinh cụ thể, để cầu nguyện cho mọi người thân đã qua đời.
c) Hãy là của lễ hy sinh suốt đời, ở sự hiến dâng bản thân mình với  những hy sinh quảng đại, để phục vụ Hội Thánh và Quê Hương.
d) Hãy là của lễ hy sinh trong đời sống thường ngày ở sự phục vụ tình yêu Chúa đối với mọi người.
Thường ngày, khi phục vụ cho tình yêu tha nhân, tôi phải hy sinh nhiều, để biết tế nhị, nhất là trong bổn phận hiếu thảo, biết ơn và tình nghĩa. Thiếu hy sinh, tôi dễ có những xúc phạm đến người khác trong tư tưởng, lời nói và thái độ. Một chút xúc phạm nhỏ có thể gây nên thương tích lớn cho người khác. Hậu quả sẽ khôn lường.
e) Hãy là của lễ hy sinh trong những dịp khác thường đặc biệt, ở sự tôi phải sẵn sàng hy sinh trọn vẹn tất cả mạng sống mình vì mến Chúa và vì yêu thương người khác.
f) Hãy là của lễ hy sinh trong trường hợp khác thường không đặc biệt vẫn xảy ra, khi đối tượng tôi phải phục vụ là những người già cả, những người bệnh nạn, những người tật nguyền. Thường thì Chúa không đòi tôi phải hy sinh mạng sống tôi cho họ. Nhưng Chúa đòi tôi phải hy sinh, ít là ở mức độ nhân bản, để họ cảm thấy mình được kính trọng, được yêu thương, được nâng đỡ, nhờ đó mà họ nghĩ đến Chúa.
Ở đây, tôi xin tận tình cảm ơn những người đã hy sinh cho tôi và vì tôi. Nhờ họ, và qua họ, Chúa đã ban tôi sự sống và sự sống dồi dào (x. Ga 10,10).
Hy sinh nhiều, hy sinh cụ thể, hy sinh quảng đại, hy sinh quên mình, đó là dấu ấn Chúa muốn tôi đóng vào mọi của lễ tôi dâng lên Chúa.
4.
Sống như  một của lễ hy sinh sẽ làm cho đời tôi có một ý nghĩa cao quý. Bởi vì sống như một của lễ hy sinh sẽ đem lại nhiều ích lợi cao cả cho muôn vàn người.
Xưa, với 5 chiếc bánh và 2 con cá của một đứa trẻ, Chúa đã nuôi hơn hai ngàn người, mà hãy còn dư (x. Ga 6,1-15). Tương tự cũng thế. Với lễ vật hy sinh của một người hèn mọn, Chúa cũng sẽ nuôi được rất nhiều linh hồn. Bởi vì của lễ hy sinh của họ được gắn kết vào của lễ hy sinh của Chúa Giêsu là một lương thực vô cùng phong phú có sức cứu độ cho cả nhân loại.
5.
Sống ơn gọi làm của lễ hy sinh như vậy mang một xác tín huy hoàng. Đó là thấy mình có một tự do nội tâm vững chắc, chọn cho mình một hướng đúng, đi về với Thiên Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót. Niềm vui ấy sẽ đời đời bền vững trên thiên đàng là cõi Phúc vô cùng vô tận.
6.
Sống ơn gọi làm của lễ hy sinh như vậy là chấp nhận sống khó nghèo như Chúa Giêsu: “Con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có nơi để gối đầu” (Mt 8,20). Sống khó nghèo không phải chỉ trong lãnh vực của cải, mà cũng trong lãnh vực chức quyền, danh dự, và trong lối sống.
7.
Sống ơn gọi làm của lễ hy sinh đòi tôi phải phấn đấu rất nhiều, không những để xa tránh tội lỗi và chống lại các thói hư tật xấu nơi tôi, mà còn để sống thực sự theo thánh ý Chúa. Một điều trong những sự Chúa muốn là tôi phải phấn đấu cam go để có thể vượt qua được những đau đớn, tủi nhục, cay đắng, thất vọng do thực tế cuộc đời gây nên cho tôi từ nhiều phía, kể cả từ phía lỗi lầm của tôi. Trong phấn đấu, tôi tin Chúa ở bên tôi.
8.
Sống ơn gọi làm của lễ hy sinh như vậy là sống niềm hy vọng đầy vui mừng hạnh phúc: “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết. Cũng không còn tang tóc và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,4). Bởi vì “họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ” (Kh 21,3).

9.
Tôi chắc chắn điều này: Trong năm Giáp Ngọ 2014, Chúa đợi chờ ở Hội Thánh Việt Nam ta nhiều của lễ hy sinh. Chính những của lễ hy sinh đó sẽ mang lại Mùa Xuân cứu độ cho Quê Hương chúng ta và cho muôn vàn người thiện chí, chân thành.
10.
Tôi tin Chúa Giêsu, tôi theo Chúa Giêsu, nên tôi dâng mình làm của lễ hy sinh một cách trọn vẹn suốt cả cuộc đời, đó là hạnh phúc của tôi. Với hạnh phúc đó, tôi xin thân ái chia sẻ ơn gọi của tôi. Xin anh chị em thương cầu nguyện cho tôi.
Tôi tin rằng: Đón nhận ơn gọi làm của lễ hy sinh chính là đón nhận Chúa Giêsu của tôi.
Tôi cũng tin rằng: Với ơn gọi làm của lễ hy sinh, Chúa đang cứu tôi và cứu nhiều người khác khỏi những sự dữ gây hại cho phần rỗi.
11.
Chúng ta hân hoan bước sang Năm Mới trong Chúa Giêsu là của lễ hy sinh vô giá, Đấng cứu chuộc chúng ta, Đấng xoá tội chúng ta, Đấng yêu thương chúng ta.
Vinh dự mà Chúa muốn ban cho chúng ta, khi bước sang Năm Mới này là: Được nên của lễ hy sinh theo Chúa Giêsu. Chúng ta có sẵn sàng đón nhận vinh dự đó không?
Dù đã sẵn sàng, dù chưa sẵn sàng, chúng ta cũng hãy cảm tạ Chúa đã thương yêu gọi chúng ta với những lời thân thiết nhất: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thánh giá mình, mà theo Thầy” (Mt 16,24).
Long Xuyên, ngày đầu Xuân Giáp Ngọ - 2014

MỘT TÌNH HÌNH CÓ NHIỀU KHỦNG HOẢNG VỀ CÁC GIÁ TRỊ





1.
Theo nhận định của nhiều người có thẩm quyền, thì nguy hiểm lớn nhất hiện nay trong Giáo Hội là rất nhiều nơi đang đánh mất những giá trị căn bản mà lại không cho là nguy hiểm.
Xin kể ra dưới đây một số hiện tượng khá phổ biến hiện nay.
2.
Đức khiêm nhường là một giá trị nền móng của đạo đức Phúc Âm. Nay nó đang bị xoá đi bằng tinh thần háo thắng tôn giáo, coi phô trương các hình thức đạo là làm sáng danh đạo, coi cạnh tranh hoành tráng trong các công trình là phát triển lòng đạo, coi cao sang lộng lẫy của các tổ chức đạo là cách lôi cuốn người ta vào đạo. Hiện tượng kiêu ngạo không phải ở đâu cũng có. Nhưng thực sự nó đang lan rộng. Có nơi nó đang biến dạng thành một tinh thần muốn tách người tín hữu khỏi Chúa Giêsu và thánh giá của Người.
3.

Đức bác ái chia sẻ là một giá trị căn bản của người tin theo Chúa. Nay đang bị yếu đi do khuynh hướng phân các thứ giai cấp: Giàu và nghèo, quyền lực và yếu kém, trung tâm và bên lề, với những khoảng cách xa. Thêm vào cảnh phân giai cấp lại đang phát triển khuynh hướng cục bộ dưới nhiều hình thức với những quyền lợi riêng. Tất cả đều bị chi phối mạnh bởi chủ nghĩa cá nhân và lối sống quan tâm đến công trình công việc hơn là đến con người.
4.
Hoạt động của cái tâm theo bài giảng trên núi, như tâm hồn nghèo khó, hiền lành, xót thương, trong sạch, khao khát sự công chính, xây dựng hoà bình là một giá trị cốt yếu của đời sống đức tin. Nay nó đang bị coi nhẹ, do sự coi nặng hoạt động của tay chân hướng về hưởng thụ. Sự thánh thiện nội tâm đang bị xuống cấp một cách trầm trọng. Kinh tế hoá một số hoạt động tôn giáo đang là một xu hướng mạnh.
5.
Nhìn nhận mình là kẻ có tội, để sám hối trở về, nhờ ơn Chúa cứu chuộc, là một giá trị cao quý của con người tín hữu. Nay nó đang bị lãng quên do thói quen mất ý thức về tội. Theo Phúc Âm, những người tội lỗi dễ đón nhận ơn Chúa thứ tha, vì họ dễ nhận mình có tội, nên sám hối trở về. Còn những người cho mình là đạo đức thường không được như thế, vì họ bảo vệ ý thức sai lầm về tội.
Thí dụ, khi Chúa Giêsu tuyên bố: “Ngày Sabba được làm nên vì con người, chứ không phải con người vì ngày Sabba” (Mt 2,27), thì những người hăng say bảo vệ luật Chúa đã bực mình và phản đối. Bởi vì họ cho rằng chủ trương của Chúa Giêsu như thế là tội lỗi, đang khi chính họ mới thực là tội lỗi, thế mà họ lại không chấp nhận sự thực đó. Ý thức của họ về tội là rất sai.
6.
Phương hướng nội tâm tập trung vào Đức Giêsu Kitô, tin nhận Người là ánh sáng, là con đường, là sự thật, để bước theo Người vốn được coi là giá trị không thay thế được. Nay nó đang bị khủng hoảng nặng nề, do thiếu phương hướng đó, hoặc mất phương hướng đó. Hậu quả là con người bỏ những trách nhiệm thực của mình, để tự bó buộc mình vào lợi ích phù du trước mắt. Hiện tượng đó còn được nhận ra do sự mất trật tự trong tâm hồn, đi quờ quạng trong bóng tối, lao mình vào những hướng sống với những kiếm tìm không bao giờ thoả mãn, mà không biết đi về đâu và không biết lối thoát ra.
7.
Bình tĩnh giữ lập trường theo thánh ý Chúa với sự quy chiếu vào Lời Chúa và gương Chúa vốn là một giá trị vững chắc cho người môn đệ Chúa. Nay nó đang chao đảo bởi những lập trường do thành kiến sai, do dư luận sai, do những áp lực sai trong đạo ngoài đời. Thói đời của chủ nghĩa tục hoá đang hoành hành khắp nơi. Kể cả nơi thờ tự và các nhà tu.
8.
Sự mở lòng ra để đón nhận lời Chúa kêu gọi hãy phục vụ con người một cách khiêm nhường như rửa chân cho các môn đệ, và một cách quảng đại như hy tế chính mình trên thánh giá, vốn mãi mãi là một dấu chỉ, hoàn toàn có giá trị chắc chắn của người môn đệ Chúa Giêsu. Nay nó như đang bị chối từ một cách có hệ thống bởi cá nhân, bởi tập thể, bởi cơ chế. Hiện tượng đóng cửa lòng lại đang xảy ra dưới nhiều hình thức. Tinh vi nhất là hình thức chọn cho mình một thứ đạo đức  chủ quản, nói là của Chúa nhưng thực ra là của Satan.
9.
Mấy khủng hoảng vừa kể trên đây chưa phải là một thống kê đủ, nhưng thiết tưởng cũng đủ, để thấy được là tình hình hiện nay trong Giáo Hội không phải là không đáng lo ngại. Tình hình đáng lo ngại này đã và đang được báo động do chính Chúa bằng nhiều cách. Phải tỉnh thức mới thấy được mức độ lo ngại là rất lớn.
10.
Theo thiển ý của tôi, điều đáng lo ngại hơn cả là ở hai điểm này:
Một là khủng hoảng được thành hình do sự xâm nhập từ từ của những yếu tố xấu. Xâm nhập từ từ, đó là một chiến lược khôn khéo của Satan.
Hai là ở giữa khủng hoảng đầy nguy hiểm mà không nhận ra nguy hiểm. Coi khủng hoảng hiện nay là bình thường của cuộc sống hiện đại, không ảnh hưởng gì đến phần rỗi linh hồn.
11.
Phần tôi, trước tình hình đáng lo ngại như hiện nay, tôi vẫn cậy tin vào Chúa. Thánh Gioan tông đồ xưa trước mồ trống táng xác Chúa Giêsu, Ngài đã thấy các dấu chỉ, và Ngài đã tin Chúa đã sống lại: “Ông đã thấy và đã tin” (Ga 20,8). Phần nào cũng như thánh Gioan tông đồ, nhiều người nay cũng dám nói: “Tôi đã thấy và tôi đã tin”. Thực sự Chúa đã cho họ thấy nhiều dấu chỉ, để họ tin Chúa Giêsu vẫn đang hiện diện trong Hội Thánh hôm nay. Người đang cứu Hội Thánh của Người. Người đang làm cho Hội Thánh được tham dự vào sự phục sinh của Người.
Tôi xác tín rằng: Sự chúng tôi đã thấy các dấu chỉ và đã tin ở Chúa chính là một ơn quý giá Chúa ban cho chúng tôi. Tôi lại thấy rõ: Biết bao người cũng đã thấy các dấu chỉ ấy, nhưng họ đã không tin ở Chúa. Đó cũng là một khủng hoảng hiện nay khá trầm trọng.
Tôi sợ rằng: Các khủng hoảng về đạo đức và về đức tin hiện nay, nếu vẫn cứ mãi mãi phát triển, đẩy con người xuống hố diệt vong đời đời, đem lại thắng lợi cho Satan, thì Chúa sẽ buộc lòng phải giải quyết một cách quyết liệt. Cũng là để cứu con người mà thôi.
Lạy Chúa, xin xót thương chúng con.

Long Xuyên, ngày 4 tháng 01 năm 2014

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

GẶP GỠ CHÚA GIÊSU

GẶP GỠ CHÚA GIÊSU
1.
Nhân dịp Tết mới, tôi xin thân ái cầu chúc cho mọi người nhận được món quà, mà tôi cho là rất quí, đó là được gặp Chúa Cứu Thế, để cuộc sống của mình được nên tốt đẹp, như lời Người đã phán xưa: “Ta đến, để cho chiên được sống, và sống dồi dào” (Ga 10,10).
2. Sở dĩ, tôi chúc như vậy, bởi vì tôi tin: Ai gặp được Chúa Giêsu, kẻ ấy sẽ nhờ Người mà có được cuộc sống tốt.
Không những tôi tin như thế, mà thực sự tôi đã trải qua một cuộc đời được kinh nghiệm như thế. Ở đây, tôi xin phép được chia sẻ đôi chút về những kinh nghiệm đó.
Trên suốt cuộc đời dài, nhiều lần tôi đã gặp được Chúa Giêsu một cách rất rõ, gây ấn tượng mạnh. Có thể tóm tắt những gặp gỡ đó vào hai loại:
3.
Một là được gặp Chúa trong cảnh huy hoàng, siêu thoát, như ba môn đệ đã gặp trên ngọn núi cao, ở đó Chúa biến hình. Ba môn đệ đã rất vui. (x. Mc 9,2-12)
4.
Hai là được gặp Chúa trong cảnh đớn đau như ba môn đệ đã thấy, trong vườn Cây Dầu, khi Người chiến đấu trước cái chết khổ nhục. Tôi cũng như ba môn đệ kể trên đã rất sợ hãi, kinh hoàng. (x. Mc 14, 33-42)
Tôi nghĩ chính vì yêu thương thân mật, Chúa Giêsu mới cho tôi được nếm đôi chút những giờ phút đặc biệt nhất của cuộc đời Chúa. Nhờ đó, tôi được Chúa dạy tôi hãy sống thân mật với Người. Sống thân mật với Người là phải gắn bó với Người một cách kiên trì trong mọi hoàn cảnh, dù sáng sủa, dù tối tăm, mà tôi phải trải qua.
5.
Tôi đã được gặp Chúa Giêsu như thế trong những dịp nào? Thưa thường xuyên tôi gặp Người bằng đức tin. Bằng đức tin, tôi gặp Chúa. Sự gặp gỡ này được thực hiện do ơn Phép Rửa tội. Ngoài ra, tôi còn được gặp Chúa, như một người được Chúa gọi hãy làm chứng cách riêng cho sự sống thân mật với Chúa.
Nhưng gặp gỡ thân mật với Chúa Giêsu mà tôi cảm nhận được thường không kéo dài lâu. Nhưng ảnh hưởng của nó thường nuôi sống linh hồn tôi một cách sâu xa lâu dài.
6.
Nơi đầu tiên tôi được gặp Chúa một cách thân mật, là nội tâm thinh lặng. Không phải lúc nào tôi cũng nếm được sự ngọt ngào do ở bên Chúa. Bởi vì rất nhiều khi, tôi cảm thấy nguội lạnh, tối tăm. Nếu có lúc, tôi nói được như vua Đavít xưa: “Tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan, thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn” (Tv 16,9), thì lúc đó, chính là khi tôi sống nội tâm thinh lặng, trút bỏ những bận tâm của nếp sống hoạt động ồn ào, hướng ngoại, để dành thời giờ cho Chúa. Trong nội tâm thinh lặng, tôi cầu nguyện, đọc Lời Chúa.
Được gặp Chúa lúc đó có thể chỉ như một tia sáng lạ thường, nhưng tôi cảm thấy rất rõ sự hiện diện của Chúa thực là dịu dàng, đem lại cho tôi hạnh phúc và một sức sống lạ lùng khôn tả.
7.
Nơi thứ hai tôi gặp Chúa một cách thân mật, là lúc tôi xưng tội và trở về với Chúa.
Tôi xưng tội hàng tháng, nhiều khi hàng tuần. Mỗi lần xưng tội là mỗi lần tôi nhìn nhận mình tội lỗi yếu hèn, xin ơn tha thứ của Chúa, qua các vị của Hội Thánh được Chúa trao quyền. Bao giờ cũng vậy, lúc đó, tôi được gặp Chúa một cách rất thân mật, rất riêng tư. Người là Đấng cứu thế vô cùng nhân hậu của tôi.
8.
Nơi thứ ba tôi thường gặp được Chúa là việc tôi phục vụ kẻ khốn khó nghèo hèn.
Tôi phục vụ họ bằng nhiều cách thích hợp với khả năng nhỏ bé của tôi. Thí dụ đã từ lâu tôi viết bài chia sẻ. Khi làm việc đó, tôi không dám nghĩ là tôi phục vụ những người đạo đức, những người đầy đủ, nhưng tôi nghĩ tới những người túng nghèo, khổ đau về phần linh hồn. Tôi tự nghĩ rằng tôi cần phải có chút can đảm để đi ra khỏi cái thế giới của giáo sĩ thường có nhiều tiện nghi, để dìm mình vào những vấn đề nóng bỏng của người nghèo khổ hôm nay. Tôi cần khiêm tốn và cậy trông, mở rộng đức tin ra để cho mọi thứ người nghèo khổ xung quanh tôi có thể nhận ra cái giá mà Chúa Giêsu đã vui chịu, để cứu họ, đem họ tới hạnh phúc thật sự.
Khi làm như vậy, nhiều lần tôi đã gặp được Chúa Giêsu. Tôi như rụng rời, không phải thấy Chúa uy nghi quyền phép, nhưng thấy Chúa khiêm tốn, hạ mình, dấn thân vào con đường thánh giá một cách nhục nhã, chỉ vì yêu thương, muốn cứu chuộc loài người.
Từ đó, tôi hiểu rõ hơn những lời Chúa Giêsu phán trong ngày phán xét chung: “Mỗi lần con làm việc tốt cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là con làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,45).
9.
Nơi thứ bốn tôi thường gặp được Chúa là những gì xảy ra, đã đụng tới tôi một cách đặc biệt và riêng tư.
Thí dụ một cảnh trời đẹp, một người dễ thương, một tác phẩm hay, một cơn bệnh, một biến cố lịch sử. Tôi như cảm được lời Chúa xưa đang thực hiện nơi tôi: “Này đây, Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa ra, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3,20). Trong chốc lát, tôi đã nhận ra Chúa gõ cửa lòng tôi qua những gì xảy ra đó. Tôi đã mở cửa đón Chúa vào.
10.
Qua những lần gặp gỡ Chúa Giêsu, tôi xác tín đạo Công giáo của tôi là một mời gọi đi xa, vượt quá những gì chúng ta có thể tưởng tượng, rất hơn cuộc sống thế trần này. Tôi càng xác tín là con người đi tu, hiến thân cho Chúa, phải thuộc trọn về Chúa, để cùng với Chúa, đưa con người tới một sự sống thực, một sự sống dồi dào bình an và hạnh phúc đời đời.
Hôm nay, những ngày sắp Tết, tôi gói gọn những kinh nghiệm và niềm tin của tôi vào một lời chúc chân thành:
Gặp gỡ Chúa Giêsu
Tôi nghĩ là nhiều người đã gặp được Chúa Giêsu, người cách này, người cách khác. Chúng ta giúp nhau gặp gỡ Chúa Giêsu, đó cũng chính là hạnh phúc muốn được chia sẻ trong ngày đầu năm Ất Mùi này. Giúp nhau như vậy chính là yêu thương nhau, trân trọng nhau và tin vào nhau.

Chớ gì được như vậy, để mùa xuân Quê Hương dưới đất sẽ là phản ánh được phần nào mùa xuân Quê Hương trên trời.

ĐGM.GB. Bùi Tuần

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

MÙA CHAY CỦA TÔI

MÙA CHAY CỦA TÔI

1.
Với những kinh nghiệm của đời mình, tôi thường sống Mùa Chay với tinh thần sám hối và tin vào Chúa, một cách sống động hơn, nhờ ơn Chúa Thánh Thần.
Cụ thể là tôi sống với bốn xác tín sau đây:
2.
Tôi xác tín mình là kẻ tội lỗi rất cần được ơn tha thứ.
Tôi thực sự là kẻ rất yếu đuối tội lỗi. Thánh Phaolô viết về chính mình thế này: “Tôi mang tính xác thịt, bí bán làm tôi cho tội lỗi. Thật vậy, tôi làm gì thì tôi cũng chẳng hiểu. Vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm” (Rm 7,14-15).
Lời thú tội trên đây của thánh Phaolô khích lệ tôi hãy nói lên sự thực về tôi, tôi cũng là như thế, và còn hơn thế rất nhiều.
Khi tôi thú nhận mình tội lỗi, tôi không quá nhấn mạnh đến sự hư đốn của tôi, nhưng tôi nhấn mạnh hơn đến sự tôi được Chúa tha thứ. Tôi thực sự đã cảm nhận những lời Chúa phán xưa về tình yêu Chúa dành cho kẻ tội lỗi, như: “Ta không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,13). “Con Người đến, để cứu cái gì đã hư mất” (Mt 18,11). “Anh em nghĩ sao? Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để 99 con kia trên núi, mà đi tìm một con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là 99 con không bị lạc. Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18,12-14).
3.
Tôi không thể hiểu được, làm sao tôi có thể sống, nếu không được tha thứ. Tôi càng không dám gánh trách nhiệm nào, nếu tôi không tin rằng Chúa sẽ tha thứ cho những yếu đuối tôi.
Tôi được ơn tha thứ. Nên tôi rao giảng về sự tha thứ. Tôi làm chứng đạo Chúa có đặc điểm là tha thứ.
4.
Tôi xác tín mình là kẻ có rất nhiều giới hạn trong mọi lãnh vực, rất cần khiêm tốn tìm hiểu, lắng nghe và cộng tác với nhiều người.
Kinh nghiệm cho tôi thấy: không gì hại cho tôi bằng sự tôi nghĩ mình phải làm đủ mọi sự, và có thể làm được mọi sự. Kinh nghiệm cũng cho tôi thấy là: Không gì dại khờ cho tôi bằng sự tôi cho rằng mình phải làm được điều gì đặc biệt, khác với các Giám mục, và linh mục tại Việt Nam hôm nay.
5.
Tôi vững tin rằng: Chúa chỉ đòi tôi một điều là: Hãy kết hợp mật thiết với Chúa, rồi ơn Chúa sẽ dẫn đưa tôi làm những gì Chúa muốn, theo khả năng bé nhỏ của tôi. “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa quả, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).
6.
Tôi xác tín mình được gọi tham dự vào thánh giá Chúa, để góp phần vào việc cứu các linh hồn.
Rất nhiều khi, tôi đã nghĩ rằng: Đau khổ tôi chịu là do tội lỗi của tôi, và là con đường giúp tôi nên thánh. Nhưng dần dần, tôi xác tín: Đau khổ là một ơn gọi Chúa dành cho tôi, để tôi được góp phần vào việc cứu các linh hồn.
7.
“Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người” (Mc 19,45). “Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,15).
8.
Càng ngày, những lời Chúa phán trên đây càng làm cho tôi xác tín về sự tôi chịu đau khổ là để đáp lại ơn gọi Chúa dành cho tôi. Đau khổ gắn liền với mục vụ, đau khổ là một cách cứu độ, đau khổ là để hiệp thông với thánh giá Chúa.
Đau khổ là một ơn gọi, là đau khổ ấy đến từ nhiều phía. Rất có thể đến từ phía cộng đoàn của tôi, do những chống đối, những xa cách, những hiểu lầm, những ghen tương, vv...
Tôi phải sẵn sàng đón nhận. Rất có thể đau khổ đến từ những chuyển biến bất ngờ đòi tôi phải từ bỏ chương trình có sẵn, để bắt đầu lại.
Rất có thể đau khổ đến từ phía những văn hoá mới có vẻ bình thường hoá những tội lỗi và căn cứ vào ý kiến số đông như thước đo đạo đức. Những trường hợp như thế, tôi sẽ rất cô đơn và đau khổ.
Rất có thể đau khổ của tôi lại là những đau khổ của người khác. Khổ cái khổ của đồng bào tôi. Đau cái đau của Hội Thánh tôi.
9.
Tôi xác tín là cuộc sống của tôi rất mong manh, tôi ra đi bất cứ lúc nào, tôi phải sẵn sàng ra trước mặt Chúa với niềm phó thác tuyệt đối vào lòng thương xót Chúa.
Thánh Têrêsa thành Lisieux nói về mình: “Tôi sẽ hiện diện trước Chúa với bàn tay không”. Ngài nhận mình chẳng là gì, chẳng đáng gì, chẳng có gì gọi là công phúc. Ngài chỉ là đứa con bé nhỏ, chỉ tin vào tình yêu Chúa mà thôi.
Tôi sẽ không nói được như thánh nữ. Nhưng tôi sẽ nói với Chúa: Con là kẻ tội lỗi, mang theo nhiều dấu ấn của tội lỗi. Nhưng con tin ở lòng thương xót Chúa. vì Chúa là Chúa của con.
10.

Với bốn xác tín trên đây, tôi sống mùa Chay năm nay một cách bình an. Tôi biết sống như thế chính là một sự hoán cải nội tâm, đòi tôi phải rất khiêm nhường vâng phục thánh ý Chúa. Sự vâng phục khiêm nhường đó nhiều khi vượt quá tính cách hợp lý theo cách suy nghĩ của thế gian. Nhưng Chúa Giêsu đã làm. Tôi cũng làm như Chúa Giêsu. Như thế, tôi mới góp phần vào việc cứu nhân loại. Nhân loại hiện nay đang rất cần được cứu. Chỉ Chúa mới cứu được mà thôi.
GM.GB. Bùi Tuần

Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

HẰNG NGÀY TÔI GẶP CHÚA GIÊSU

HẰNG NGÀY TÔI GẶP CHÚA GIÊSU

1.
Tôi đã về hưu. Nhưng tôi vẫn có bổn phận đối với Hội Thánh để lo cho các linh hồn.
Trong tôi, mọi khả năng càng ngày càng yếu đi. Chính vì vậy, càng ngày tôi càng cảm thấy mình cần phải gần gũi với Chúa Giêsu, xin Người ban cho tôi niềm vui và hy vọng, để có thể lo được chút gì cho các linh hồn, dù chỉ là một chút rất bé nhỏ.
2.
Mỗi buổi sáng, tôi thường hôn tượng Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá. Tôi  nói với Người: Này con đây. Chúa muốn con làm gì? Bao giờ cũng thế, tôi được nghe Chúa nhắc lại trong lòng tôi lời Chúa phán xưa: “Ta hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11.16.17.18).
3.
Cùng với lời đó, Chúa đốt lên trong lòng tôi niềm khao cứu các linh hồn bằng thánh giá tượng trưng cho tình yêu và hy sinh. Niềm khao khát đó được đốt lên rất mạnh trong thời gian tôi chịu bí tích Thánh Thể.
4.
Thế rồi, Chúa sai tôi đi. Tôi không đi được bằng chân, bởi vì tôi cũng như bị đóng đinh vào một chỗ, do bệnh tật già yếu. Nhưng tôi đi bằng tâm hồn, qua thời sự.
5.
Tâm hồn tôi đi gần, tới xa. Đâu đâu tôi cũng thấy những cảnh đau lòng. Nhiều cảnh rất đau lòng xảy ra trong đời sống vật chất, trong đời sống tinh thần, trong đời sống tâm linh.
Những cuộc sống như thế cần được cứu. Tôi nhận ra Chúa Giêsu đang cứu họ qua những người Chúa chọn.
6.
Chúa cho thấy đặc điểm của những người được Chúa chọn đang cộng tác với Chúa trong việc cứu các linh hồn tại Việt Nam hiện nay là:
- Họ khao khát cứu các linh hồn.
- Họ yêu thương và hy sinh.
7.
Về đặc điểm thứ nhất là khao khát cứu các linh hồn, thì tôi được một chút kinh nghiệm như sau:
Khi hôn Chúa Giêsu chịu đóng đinh, tôi được Chúa Giêsu chia sẻ cho sự khao khát, mà Người kêu lên trên thánh giá xưa: “Tôi khát” (Ga 19,28).
Người khát các linh hồn. Nỗi khao khát đó chính là một thương tích sâu sắc nhất trong trái tim Người. Trong chốc lát, tôi hiểu khao khát các linh hồn là “muốn cho mọi người được cứu độ và biết chân lý” (1 Tm 2,3). Muốn cứu độ, tôi xác tín là phải cứu con người khỏi mọi lầm than, đặc biệt là cứu khỏi tội, khỏi lửa hoả ngục, để họ được phúc thiên đàng đời đời.
Một khao khát như trên chỉ do Chúa chia sẻ cho từ trái tim của Người, chứ không do lý luận, thảo luận. Chúa chia sẻ cho những kẻ bé mọn. Tôi thấy những kẻ bé mọn được Chúa chia sẻ cho nỗi  khao khát của Chúa đang sống rải rác khắp nơi trong Hội Thánh Việt Nam hôm nay. Tôi học được rất nhiều ở họ.
8.
Về đặc điểm thứ hai là yêu thương và hy sinh, thì tôi cũng được một chút kinh nghiệm như sau:
Yêu thương và hy sinh mà Chúa Giêsu chia sẻ cho tôi, được tôi cảm nghiệm như là một sự tôi được Chúa thu hút về với tình yêu Chúa trong sự vâng phục thánh ý Chúa.
Thu hút đó là một sự hiện diện dịu dàng của Chúa tình yêu, là một việc làm chọn lựa của Chúa tình yêu. Tôi  nhận được sự Chúa thu hút, đó chính là yêu thương, mà tôi cảm nhận.
Yêu thương như vậy, đòi vâng phục thánh ý Chúa trong mọi nơi mọi lúc. Vâng phục ý Chúa sẽ phải từ bỏ ý riêng mình, và đó chính là hy sinh, một thứ hy sinh cũng đem lại niềm vui như yêu thương.
Tôi đang thấy đặc điểm yêu thương và hy sinh, như vừa tả, nơi nhiều người trong Hội Thánh Việt Nam hôm nay. Họ âm thầm. Họ có mặt trong mọi giới. Tôi học được rất nhiều điều nơi họ. Một điều rất quý, tôi học được nơi họ là sự tế nhị.
Sự tế nhị là kết quả của yêu thương và hy sinh.
9.
Mỗi tối, trước khi ngủ, tôi lại hôn tượng Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá. Tôi thưa với Người: “Lạy Chúa, này con đây, Chúa muốn con làm gì?”. Hầu như lần nào cũng vậy, Chúa Giêsu lại âu yếm nói với tôi: “Con hãy bắt đầu lại”.
Với lời đó Chúa dạy tôi một sự thực rất cần cho tôi, đó là tôi còn rất bất toàn, còn rất nhiều điều phải học. Với sự thực đó, tôi nhận ra điều này, đó là: Con đường tôi đi sẽ không luôn luôn suôn sẻ. Chính tôi cũng không luôn luôn an ổn. Tôi cần phải bám chặt vào Chúa. Sẽ có lúc, tôi sẽ như đi trong đêm, trên đầu là núi, dưới chân là vực thẳm, trước mắt là sông lớn. Sẽ chẳng còn nhìn thấy ai. Tôi sẽ rất cô đơn. Tôi không tránh được sợ hãi. Một điều, và chỉ một điều tôi cần phải có trong hoàn cảnh như thế, đó là cậy tin phó thác vào Chúa. Một cách tuyệt đối. Một cách triệt để. Một cách kiên trì.
10.
Một phút trước khi ngủ, tôi lại hôn tượng Chúa chịu đóng đinh. Tôi nói với Người: “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Thế rồi, tôi ngủ trong tâm hồn phó thác.
Khi ngủ, tôi thường gặp Chúa Giêsu trong tiềm thức và vô thức. Như vậy, có thể nói: Chúa Giêsu là Đấng tôi gặp suốt ngày suốt đêm. Nhờ vậy, tôi được cùng với Người, góp phần vào việc lo cứu các linh hồn theo khả năng bé mọn của tôi.
11.
Dần dần, tôi khám phá thấy Tin Mừng là chính Chúa Giêsu. Người cứu tôi, và dùng tôi để cứu  người khác. Trong suốt con đường cứu chuộc, Người đã bước xuống, đã cúi xuống, đã quỳ xuống. Tình yêu của Người là những hy sinh tự hạ dành cho những kẻ yếu hèn tội lỗi.
Suốt đời này và mãi mãi đời sau, tôi sẽ ca tụng Người, và làm chứng về Người, dù chỉ được vài người  nghe và tin vào những gì tôi làm chứng về Người, tôi vẫn cho đó là một niềm vui và một niềm hy vọng.
Bởi vì chính Chúa Giêsu thực là hy vọng và là niềm vui của tôi. Chính Người là: “Đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Chính  nhờ Người, với Người và trong Người, mà tôi yêu thương đồng bào của tôi, phục vụ Đất Nước của tôi, gắn bóvới Hội Thánh của tôi.
12.
Qua những gặp gỡ với Chúa Giêsu, tôi được Người cho thấy là Hội Thánh đang đi vào một giai đoạn rất khó khăn, cuộc chiến giữa thiện và ác sẽ rất khốc liệt, lực lượng Satan sẽ rất lộng hành, lôi kéo các linh hồn xuống hoả ngục một cách dã man và dễ dàng, đạo đức sẽ xuống dốc trầm trọng. Vì thế, hãy mau trở về với Chúa, bằng con đường Tin Mừng là Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Người là “cửa chuồng chiên” (Ga 10,7). Không qua cửa đó mà vào chuồng chiên chính là trộm cướp (x. Ga 10,1).

Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con.

ĐGM. GB. BÙI TUẦN