Thứ Hai, 4 tháng 5, 2015

NHỜ MẸ DÂNG HOA LÊN CHÚA

NHỜ MẸ  
DÂNG HOA LÊN CHÚA

1.
Trong 12 tháng, thì tháng Năm được Hội Thánh Việt Nam gọi là tháng dâng hoa kính Đức Mẹ. Hoa dâng kính Đức Mẹ thường được hiểu là hoa tự nhiên trồng ở vườn, mua từ chợ. Bên canh hoa tự nhiên mang nhiều màu sắc và hương thơm, chúng ta còn dâng lên Mẹ những hoa thiêng liêng trồng ở tấm lòng riêng tư của mỗi người chúng ta.
Riêng đối với tôi, những hoa quan trọng nhất tôi dâng lên Mẹ, đều là những hoa thiêng liêng. Nói cho đúng, những hoa thiêng liêng này đều do chính Đức Mẹ đã giúp tôi trồng trong trái tim tôi, để rồi tôi lại hái dâng lên Mẹ, và nhờ Mẹ dâng lên Chúa.
2.
Hôm nay, tôi ôm vào lòng một bông hoa tôi cho là rất quý, mà chính Mẹ giúp tôi trồng trong sâu thẳm hồn tôi. Mẹ bảo tôi hãy dâng hoa đó lên Chúa nhân lành. Chúa đã thương nhận. Người dạy tôi hãy kể ra cho cộng đoàn biết chút ít về bông hoa đó, vì nó là công trình của Mẹ. Tên bông hoa đó là niềm tin vào tình yêu đầy xót thương của Thiên Chúa.
3. Tôi xin vắn tắt.
Ngay từ rất nhỏ, tôi đã được cha mẹ dâng tôi cho Đức Mẹ. Đọc kinh Mân Côi đã sớm trở thành thói quen tôi dùng để gặp gỡ Đức Mẹ. Mỗi ngày nhiều lần, sự gặp gỡ Đức Mẹ bằng kinh Mân Côi đã gieo vào lòng tôi những tâm tình về đức tin. Tôi tin Chúa theo kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng và kinh Sáng Danh. Dần dần, tôi nhận ra Chúa là tình yêu. Rồi, đến một lúc, tôi nhận ra tình yêu Chúa là tình yêu đầy lòng thương xót.
Phải nói là, Đức Mẹ cho tôi nhận ra trước, rồi sau đó là tin tất cả những gì về tình yêu Chúa giàu lòng xót thương.
4.
Tôi nhận ra Chúa thương yêu tôi, qua những gì đã xảy ra trong đời tôi. Đời tôi là một hành trình. Chuyến đi đời tôi gặp nhiều trắc trở. Có những trường hợp tưởng là chắc chắn tôi sẽ rơi xuống hố diệt vong. Nhưng đến phút chót, tôi đã được Chúa cứu. Tôi nhận ra tôi được cứu hoàn toàn nhờ Chúa và do Chúa. Do vậy, tôi nhận ra Chúa là tình yêu cứu độ.
Tình yêu ấy Chúa dành cho tôi một cách nhưng không, một cách bất ngờ, một cách quá sức tưởng tượng. Tôi chỉ biết gọi Chúa là tình yêu, đúng như thánh Gioan tông đồ  đã viết: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,16).
5.
Chúa yêu tôi, trước khi tôi yêu Chúa. Không những thế, Chúa còn yêu tôi, khi tôi còn trong tội lỗi, hư hỏng, đê hèn, đáng phải trừng phạt. Qua đó, tôi nhận ra Chúa giàu lòng thương xót. Nhận ra qua những bằng chứng sống động. Cảm thấy bằng những xúc cảm không thể nào quên. Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót, là điều bản thân tôi đã nhận ra, đã cảm nghiệm, là điều đã đóng ấn sâu trên đời tôi. Tôi đã nhận ra và đã tin. Như thánh Gioan đã viết:
“Tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian, để nhờ Con Một của Người, mà chúng ta được sống.
“Tình yêu cốt ở điều này: Không phải chúng ta đã yemé Thiên Chúa trước, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4,9-10).
“Chúng ta đã nhận biết tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta, và chúng ta đã tin vào tình yêu đó. Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,16).
6.
Tôi đã nhận ra và đã tin Thiên Chúa là tình yêu thương xót. Sự nhận ra và sự tin như thế đã nâng đỡ tôi rất nhiều trong chức vụ linh mục và Giám mục. Nhất là khi mọi lãnh nhận các chức vụ trong Hội Thánh đều hoàn toàn do được sai đi, chứ không do tự mình tôi chọn lấy cho mình.
Được Chúa sai đi, và nhận lãnh sự sai đi chỉ vì vâng phục ý Chúa, nhất là trong những tình hình phức tạp khó khăn, đó là tâm trạng đòi nhiều phó thác. Sự phó thác đó nơi tôi đã được đỡ nâng bằng sự nhận ra và tin mình được Chúa yêu thương đầy thương xót.
7.
Khi được nhận ra và được tin vào tình yêu đầy xót thương của Chúa, tôi tự nhiên ham thích cầu nguyện. Tôi theo gương Mẹ.
Có thể nói: Sự ham thích cầu nguyện nơi tôi là do ơn Chúa. Chính Chúa làm cho linh hồn tôi ngoan ngoãn đặt mình dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, để cầu nguyện với Chúa một cách khiêm nhường và cậy trông.
Cầu nguyện nơi tôi là sự gặp gỡ với Chúa, là sự trao đổi giữa tình yêu Chúa và sự hèn hạ khốn khổ của tôi.
Cầu nguyện nơi tôi không hệ tại ở sự suy nghĩ nhiều, mà ở tại sự yêu mến nhiều.
Cầu nguyện nơi tôi là một việc đơn sơ, hồn nhiên. Bắt đầu cầu nguyện, tôi hay nhìn Chúa Giêsu và học ở Người điều mà chính Người đã phán: “Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29). Rồi tôi nhận được sự bình an, như Người đã hứa: “Tâm hồn các con sẽ được bình an” (Mt 11,29).
8.
Kh cầu nguyện, tôi xác tín mình rất hèn mọn, khó nghèo, tội lỗi, xấu xa, rất cần đến lòng thương xót Chúa. Tôi tin Chúa xót thương tôi, chính vì tôi là như thế. Và vì tôi chính là kẻ khó nghèo, tội lỗi, nên tôi tự nhiên không dám mơ ước đến những sự lớn lao, như hãm mình khắc khổ lớn, trở thành ánh sáng lớn, làm những việc lành lớn.
9.
Trở thành bé nhỏ, đó là một cách tôi thuộc về Chúa Giêsu. Đấng mà tôi tin luôn yêu tôi với tình xót thương vô bờ.
Trở thành bé nhỏ như thế luôn đi kèm với sự cậy trông. Chính ở đây tôi hiểu lời thphl đã nói: “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,10).
10.
Những gì tôi vừa vắn tắt chia sẻ trên đây là rất chân thành. Đó là bông hoa thiêng tôi dâng lên Mẹ, và nhờ Mẹ, dâng lên Chúa.
Tôi tin rằng: Tại Việt Nam hôm nay đang có nhiều bông hoa thiêng liêng dâng lên Mẹ, và nhờ Mẹ dâng lên Chúa. Những bông hoa thiêng liêng đó có thể khác nhau. Nhưng tất cả đều muốn làm chứng về Thiên Chúa.
Tuy nhiên, hơn bao giờ hết, người thời nay cảm thấy mình được thu hút bởi dung mạo Thiên Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót, hơn là bởi bất cứ dung mạo nào. Do vậy, mà việc làm chứng cho Thiên Chúa giàu tình yêu thương xót rất cần được thực hiện do chính ơn Chúa, một cách khiêm nhường vâng phục, để có sức dấn thân phục vụ theo đúng ý Chúa.

Long Xuyên, ngày 3.5.2015.

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2015

CHUYỆN CỦA HẠT LÚA GIEO VÀO LÒNG ĐẤT

CHUYỆN CỦA HẠT LÚA 
GIEO VÀO LÒNG ĐẤT 
1.
Ngày 30 tháng 4 năm nay là một kỷ niệm lớn. Để mừng kỷ niệm trọng đại đó, tôi nhìn Hội Thánh Việt Nam, cách riêng là tại miền Nam, và đặc biệt là tại giáo phận Long Xuyên của tôi.
Đúng là có nhiều nhà thờ mới, nhiều giáo điểm mới, nhiều cơ sở mới, nhiều nhân sự mới. Tôi hỏi Chúa xem tôi nên vui hơn cả về yếu tố nào, Chúa trả lời tôi là: Hãy vui vì đã và đang có nhiều hạt lúa được gieo vào lòng đất. Tôi nhớ lại lời Chúa phán xưa: “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không thối đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình. Còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24).
2.
Lời Chúa trên đây giúp tôi nhận ra những ai đã và đang là loại hạt lúa được Chúa chôn vùi vào lòng Đất Quê Hương Việt Nam này, để hy sinh của họ nẩy sinh ra được nhiều người tốt.
Cảm tạ Chúa, tôi cũng phần nào được ơn là một hạt lúa như vậy. Nên tôi xin nói đôi chút về tôi, như một chứng nhân của ơn gọi là hạt lúa gieo vào lòng đất.


3.
Điều thứ nhất Chúa thường căn dặn tôi là hãy khiêm tốn và phó thác để Chúa chôn vùi tôi.
Càng ngày tôi càng hiểu tôi được chôn vùi, chứ không phải bị chôn vùi. Nghĩa là tôi coi sự chôn vùi là một ơn Chúa ban. Chôn vùi không phải chỉ là sự không đi tìm nổi nang, mà còn là để cho những khổ đau, những nhục nhã, những nhọc nhằn chôn vùi mình. Tự nhiên phản ứng là rất khó chịu. Nhưng với ơn Chúa, tôi đón nhận sự chôn vùi như thế. Tôi đón nhận, vì như thế là bước theo Chúa Giêsu, là được cùng khổ với Người, là được cùng với Người cứu các linh hồn, đưa họ về với Cha trên trời.
4.
Những cuộc đời được chôn vùi như thế, thực ra là được chôn vùi mình trong Chúa Kitô. Nhờ vậy, họ xác tín: “Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12,25).
Để sống chôn vùi như một ơn gọi, Chúa dạy tôi là phải luôn luôn cảnh giác. Ngay thời Chúa Giêsu, ma quỷ, thế gian, xác thịt đã xúi giục nhiều người coi phô trương các việc đạo là làm sáng danh Chúa. Chúng đã thành công. Vì thế, Chúa cảnh báo: Phô trương như vậy là đã được thưởng công rồi (x. Mt 6,1-6.16-17).
5.
Trong hoang địa, Satan cũng đã cám dỗ Chúa Giêsu hãy làm những việc phô trương, để chứng minh mình là Con Thiên Chúa. Nhưng Chúa Giêsu đã khước từ (x. Mt 4,1-10).
Chứng tỏ rằng: Thời nào và đâu đâu, phô trương cũng vẫn là chước cám dỗ có sức phá đạo. Thời nay cũng vậy. Vì thế, ơn gọi sống như hạt lúa được chôn vùi đòi nhiều tỉnh thức. Tỉnh thức nói đây là tỉnh thức Phúc Âm, chứ không phải tỉnh thức theo sự khôn ngoan thế gian. Tỉnh thức Phúc Âm là một lựa chọn mang nhiều đau đớn.
6.
Điều thứ hai Chúa thường nhắc nhủ tôi là hãy sáng suốt nhận ra thực tế của mảnh đất, mà Chúa muốn chôn vùi tôi.
Như một ví dụ, Chúa bảo tôi đọc lại những gì, thánh Gioan đã viết cho bảy giáo đoàn trong sách Khải Huyền (x. Kh 2-3). Giáo đoàn nào cũng có điều tốt, nhưng cũng có điều xấu. Gioan cảnh báo: “Ai có tai thì hãy nghe điều Thần Khí nói với các Hội Thánh” (Kh 2,7).
Chúa dạy tôi cũng hãy làm như vậy, với môi trường mình chôn vùi. Tôi sẽ phải vâng theo Chúa Thánh Thần soi sáng, mà tìm cách thích hợp nói lên ý Chúa, sau khi được Chúa cho thấy điều không tốt nơi họ, và điều đó là rất nguy hiểm cho họ.
7.
Kinh nghiệm cho tôi thấy môi trường nào cũng mang vài thực tế xấu, mà Chúa có nói trong dụ ngôn “Người gieo giống” (Mt 13,3-9). Nơi thì đất bị gai góc phủ, nơi thì bị sỏi đá pha trộn, nơi thì bị côn trùng làm tổ, nơi thì bị khô cứng lâu năm.
8.
Là hạt lúa được chôn vùi vào đâu, tôi phải có trách nhiệm với môi trường đó. Trách nhiệm nói lên ý Chúa gởi cho họ. Kinh nghiệm cho tôi thấy, nói lên ý Chúa gởi cho cộng đoàn không phải là việc dễ. Rất nhiều cộng đoàn, dù được tiếng đạo đức, vẫn thích an phận với nếp sống đã quen. Do vậy, họ trở thành vô cảm, xơ cứng. Và đó chính là một nỗi đau lớn của thân phận hạt lúa gieo vào lòng đất.
9.
Điều thứ ba Chúa luôn dạy tôi là chính bản thân tôi hãy luôn là hạt lúa tốt.
Thế nào là hạt lúa tốt? Tôi nhớ tới lời Chúa dạy: “Thầy là cây nho thật, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái. Và không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).
Với lời Chúa phán trên đây, tôi hiểu, tôi sẽ là hạt lúa tốt, khi tôi kết hiệp mật thiết với Chúa, như cành với cây. Kết hợp mật thiết với Chúa là cả một sự cải hoá nội tâm sâu xa, lâu dài, thường xuyên, một cách kiên trì, trong khiêm tốn cầu nguyện và phấn đấu không ngừng.
10.
Như vậy, hạt lúa được chôn vùi vào lòng đất, thối đi và sinh nhiều trái, là một ơn gọi. Ơn gọi đó là một hành trình. Một hành trình đẹp, đang thu hút nhiều con người Việt Nam hôm nay.
11.
Riêng tôi, khi cầu nguyện xin ơn thánh hoá các linh mục, tôi hay thầm nói với Chúa rằng: Mừng cho những ai sẽ là ánh sáng soi khắp trần gian. Còn con, xin Chúa cho con chỉ là một hạt lúa được chôn vùi vào lòng đất, nó sẽ thối đi, để nếu nhờ đó nó chỉ sinh ra được vài hạt lúa tốt cho Chúa, thì con vẫn coi đó là một hồng ân Chúa ban, mà con sẽ cảm tạ Chúa đến muôn đời.
12.
Giờ đây, thời gian cuối đời, tôi đi gần về với Cha. Tôi không đi một mình, mà đang đi với muôn người, họ cũng là những hạt lúa âm thầm, họ còn được chôn vùi hơn tôi. Chúng tôi tin tưởng những hạt lúa âm thầm này được chôn vào lòng dân tộc, sẽ làm nên một mùa lúa mới đẹp thơm báo hiệu Nước Thiên Chúa là tình yêu vĩnh cửu đang gần đến.

Gm. GB. Bùi Tuần
Long Xuyên 8-4-2015

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2015

CHÚA PHỤC SINH ĐẾN VỚI TÔI

CHÚA PHỤC SINH ĐẾN VỚI TÔI
  
1.
Mới rồi, một biến cố đã xảy đến cho tôi. Biến cố riêng tư, tuy nhỏ, nhưng đang ảnh hưởng lớn đến đời tôi. Tôi xin được phép chia sẻ.
Sau một ngày được đọc và được nghe kể về những cuộc lễ tạ ơn trọng thể đó đây, trong đó đề cao những thành tích lẫy lừng nhiều mặt, tôi cảm thấy như có một sự giới thiệu về Ơn Phục Sinh tại những nơi ấy.
Đêm đến, tôi lên giường, muốn ngủ mà không ngủ được. Tôi cầu nguyện. Thế rồi, tôi đi vào một giấc mơ. Tôi thấy Chúa Giêsu Phục Sinh đến với tôi. Một cảm giác rất mạnh bừng lên trong tôi, làm tôi sung sướng và bình an lạ thường, đó là thấy Chúa Phục Sinh rất hiền lành, rất khiêm nhường, rất xót thương. Người nhìn tôi, mà không nói gì. Tôi nhìn Người, cũng không nói được gì. Đột nhiên, tôi bật khóc và tôi thức.
2.
Khi tỉnh dậy, tôi cảm thấy lòng tôi tràn trề niềm vui. Tôi thấy cái nhìn của Chúa Phục Sinh đã đổi mới tôi một cách sâu xa và mạnh mẽ. Tôi chỉ xin kể ra đây vắn tắt bốn soi sáng tôi nhận được. Soi sáng nào cũng là chân lý cứu độ tôi. Soi sáng nào cũng làm cho tôi được phục sinh.
3.
Soi sáng thứ nhất mở lòng trí tôi ra, là để tôi nhận biết tôi là kẻ tội lỗi.
Trong giây lát, cái nhìn của Chúa Phục Sinh cho tôi thấy quá khứ của tôi đầy những tội lỗi, hiện tại của tôi đầy những yếu đuối, tương lai của tôi đầy những điều phải đổi mới.
Tôi nhớ lại dụ ngôn “Người Pharisêu và người thu thuế” (Lc 18,9-14). Người Pharisêu khi cầu nguyện, đã hết lòng cảm tạ Chúa về bao việc đạo đức mình đã làm. Còn người thu thuế, khi cầu nguyện, thì hết lòng xin Chúa thương xót, vì nhận mình chỉ là kẻ tội lỗi. Chúa Phục Sinh soi sáng cho tôi thấy: Tôi hãy nhận mình là kẻ tội lỗi. Đó là sự thực. Tôi nhận rõ sự thực đó. Tôi sám hối. Tôi nhìn Chúa đang nhìn tôi. Tự nhiên tôi bật khóc.
4.
Soi sáng thứ hai mở lòng trí tôi ra, là để tôi nhận biết bất cứ tội nào của tôi cũng đều gây đau đớn cho chính Chúa Giêsu.
Cái nhìn của Chúa Phục Sinh đưa lòng trí tôi đến thánh giá. Tôi nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên đó. Người mang hình ảnh khủng khiếp của một tội nhân. Người chịu như vậy vì tội lỗi của tôi và của muôn người. Tội lỗi của tôi đã làm cho Người phải khổ. Tôi nhớ lại những lúc trước đây tôi dửng dưng trước đau khổ của Chúa Giêsu trên thánh giá. Người quá đau khổ vì tội lỗi tôi. Tôi nhận ra là sự dửng dưng đó của tôi đã làm cho Chúa bị đau khổ thêm. Tôi hối hận vô vàn. Tôi khóc.
5.
Soi sáng thứ ba mở lòng trí tôi ra, là để tôi nhận biết sự tha thứ Chúa dành cho tôi là do lòng thương xót Chúa.
Tôi nhớ lại dụ ngôn “Người cha nhân hậu” (Lc 15,11-32). Người cha này đã đối xử với người con phung phá trở về một cách xót thương quá sức tưởng tượng. Người cha ấy đã tha thứ, đã ôm lấy con, chỉ vì tình yêu xót thương. Hình ảnh người cha tha thứ đó dạy tôi, khi sám hối, phải nhìn vào Chúa là Cha, để đón nhận sự thứ tha. Chứ đừng đón nhận ơn tha thứ, chỉ từ các nghi thức. Các nghi thức sám hối, để ban ơn tha thứ, nếu chỉ nhấn mạnh đến hình thức bên ngoài, sẽ dễ tạo nên một sự thứ tha máy móc. Hãy gặp mặt chính Chúa là Cha, để trở về với Cha.
6.
Soi sáng thứ bốn mở lòng trí tôi ra là để tôi chọn Chúa Giêsu một cách tuyệt đối và dứt khoát.
Tôi đã chọn Chúa Giêsu. Sự lựa chọn đó của tôi là tuyệt đối. Tôi dám nói về sự lựa chọn đó bằng những lời của thánh Phaolô: “Tôi tin chắc rằng: Cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm, hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì tách được tôi ra khỏi tình yêu cua Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô  Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8,38-39).
Tôi chọn Chúa Giêsu là cũng chọn thánh giá của Người: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài thánh giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6,14). Vì thế “Tôi luôn mang nơi thân xác mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Kitô cũng được biểu lộ nơi thân mình tôi” (2Cr 4,10). Tóm lại, “Tôi chỉ có một tham vọng là làm đẹp lòng Người” (2Cr 5,9).
7.
Những gì trên đây đã xảy đến cho tôi từ cái nhìn của Chúa Phục Sinh thực là tuyệt vời. Tôi hết lòng cảm tạ Chúa.
Tôi nghĩ Chúa Phục Sinh đã đến với nhiều người, có thể cũng một cách như đã đến với tôi, và có thể bằng những cách khác. Điều quan trọng là mỗi người chúng ta cần phải tỉnh thức và nhạy bén. Bởi vì Chúa Phục Sinh đến cách bất ngờ, lúc bất ngờ, và ở nơi bất ngờ.
Nếu chúng ta tưởng Chúa Phục Sinh sẽ đến theo chương trình chúng ta đã sắp đặt trước, thì ta tự lừa dối mình.
8.
Kinh nghiệm của riêng tôi cho tôi thấy: Chúa Phục Sinh thường hay đến với tôi bằng một cái nhìn thân thương của Người. Người gởi cho tôi cái nhìn thân thương ấy của Người qua nhiều phương tiện. Qua cầu nguyện, qua một số người, một số thời sự, một số bài báo, một số trang sách, một số biến cố vv... Tôi đã bắt chợt được những cái nhìn thân thương của Chúa. Chính nhờ ơn Chúa. Tôi đón nhận sứ điệp gói trong những cái nhìn đó, để rồi tôi gặp được chính Chúa Phục Sinh.
9.
Không phải sứ điệp nào trong những cái nhìn của Chúa đều làm tôi vui. Bởi vì không thiếu trường hợp, sứ điệp đó lại là những cảnh báo rất đáng sợ.
Xưa: “Khi đến gần Giêrusalem và nhìn thấy thành, Đức Giêsu khóc thương mà nói: ‘Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi. Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được. Thật vậy, sẽ tới những ngày quân thù đắp luỹ chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề. Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái ngươi đang ở giữa ngươi và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm” (Lc 19,41-44).
Chúa nhìn thành và đã khóc. Tôi đang thấy cảnh đó tái diễn. Người cảnh báo về một sự sụp đổ tang thương nào đó. Và tôi lo sợ. Lo sợ của tôi giúp tôi thêm khiêm nhường và bớt chủ quan để thêm cậy tin vào Chúa Phục Sinh.
10.
“Xin đừng làm theo ý con, nhưng xin theo ý Cha mà thôi” (Lc 22,42). Tôi luôn cùng với Chúa Phục Sinh nói lên lời phó thác đó, để thánh ý Chúa Cha được nên trọn nơi tôi. Tôi xác tín tôi được sai đi để làm chứng cho Chúa qua sự từ bỏ mình, để vâng phục trọn vẹn nơi Chúa Phục Sinh.

GM. GB. Bùi Tuần
Long Xuyên 28-3-2015

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2015

ĐAU KHỔ ĐÃ VÀ ĐANG ĐƯỢC BÁO TRƯỚC



1.
Mùa Chay kêu gọi tôi suy gẫm cách riêng về cuộc Thương khó của Chúa Giêsu. Suy gẫm của tôi từ đầu mùa Chay năm nay đến bây giờ tự nhiên hướng về một nét đặc biệt của cuộc Thương khó Chúa, đó là đau khổ của Chúa Giêsu đã được báo trước.
2.
Đau khổ của Chúa Giêsu đã được báo trước thế nào?
Để rồi, đau khổ của môn đệ Chúa Giêsu cũng được báo trước ra sao?
Sống với những báo trước quan trọng ấy, chính là nét sống tu đức của tôi hôm nay. Dưới đây, tôi xin được chia sẻ vắn tắt đôi chút kinh nghiệm của tôi.
3.
Bình thường, tôi quen sống đức tin bằng sự gặp gỡ thân mật với Chúa Giêsu, tôi để ý nhiều đến tính cách thân mật trong cuộc sống bình thường. Nhưng khi suy gẫm về cuộc thương khó Chúa, tự nhiên tôi gặp gỡ Chúa trong một hoàn cảnh rất khác, đó là hoàn cảnh Người chịu đau khổ, nhục nhã, nghèo hèn.
4.
Do thân mật, tôi nói với Chúa: “Chúa bị khinh, bị chối bỏ, bị kết án, bị giết như thế, thì còn gì là thu hút đối với những ai muốn theo Chúa?”. Cũng trong thân mật, Chúa trả lời tôi: “Con Người phải chịu khổ đau như thế, để đưa nhân loại vào Nước Thiên Chúa. Cái thu hút không phải là đau khổ, mà là hy sinh cho tình yêu. Chính vì thế, mà đau khổ Cha chịu đã được Cha báo trước”.
5.
Thế rồi, Chúa cho tôi nhớ lại những lời chính Chúa đã báo trước về cuộc thương khó của Người. Thánh sử Marcô thuật lại ba lần chính Chúa báo trước: Phải qua đau khổ, mới tới Phục sinh.
6.
Lần thứ nhất: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và sau ba ngày sẽ sống lại” (Mc 8,31).
Lần thứ hai: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời. Họ sẽ giết chết Người. Và Người bị giết chết. Rồi sau ba ngày, Người sẽ sống lại” (Mc 9,31).
Lần thứ ba: “Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người, và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại” (Mc 10,33-34).
7.
Chúa Giêsu đã thấy trước, và đã báo trước cuộc thương khó của Người. Có nghĩa là Chúa coi cuộc thương khó là con đường tốt nhất Người chọn, để làm chứng cho tình yêu, để đưa loài người vào Nước Thiên Chúa.
Thú thực là tôi tin hơn là tôi hiểu. Niềm tin ấy cũng là do ơn Chúa. Tôi đón nhận ơn đó, tôi cộng tác vào ơn đó với tất cả tấm lòng khiêm tốn của tôi.
8.
Rồi, cũng trong thân mật, Chúa Giêsu âu yếm nói với tôi những lời xưa Người đã nói với các môn đệ của Người. Đại khái là: con đường Người đã đi sẽ là con đường tôi phải đi. Chúa phán: “Ai muốn theo Cha, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo Cha” (Mc 8,34).
9.
Đem Lời Chúa trên đây soi vào cuộc đời mình, tôi thấy đúng là chỗ nào cũng không tránh được đau khổ.
“Phải từ bỏ mình” đâu có dễ.
Cái tôi xấu không hẳn chỉ gồm những thói hư nết xấu, mà cũng gồm cả những tư tưởng, việc làm, lời nói mà tôi tưởng là đạo đức, nhưng thực sự lại không hợp ý Chúa, nên bị Chúa ruồng bỏ. Thánh Phêrô xưa, khi nghe thầy mình báo về cuộc thương khó Người sẽ phải chịu, đã phát biểu một cách đầy đạo đức: “Xin Thiên Chúa thương Thầy, đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy”. Nhưng Chúa Giêsu quay lại bảo Phêrô: Satan, hãy lui lại đàng sau Thầy, tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16,22-23). Tôi nay nhiều lúc cũng vậy. Từ bỏ mình luôn có khổ đau.
10.
“Vác thập giá mình” cũng đâu là chuyện nhởn nhơ.
Nếu thập giá của tôi là những giới hạn của tôi, là bệnh tật của tôi, là gánh nặng tuổi tác của tôi, là những nghịch cảnh luôn có trong cuộc đời, vv... thì đau khổ tất nhiên sẽ đồng hành chặt chẽ với tôi. Nói lên thực tế đó chính là một điều lương thiện.
11.
“Mà theo Chúa”, đó mới chính là chuyện chắc chắn phải khổ.
Theo Chúa, để ở bên Chúa, để cùng chia sẻ với Chúa, đâu là chuyện lúc nào cũng vui. Khi Chúa bị đánh đòn, bị khạc nhổ vào mặt, bị vác thập giá, bị đóng đinh vào đó, bị xỉ vả, chế nhạo. Lúc đó, Chúa bảo: Con hãy cùng theo Chúa mà chia sẻ thân phận như thế của Chúa. Tôi xin thú thực là tôi không luôn sẵn sàng. Nếu có sẵn sàng, thì cũng phải nhận rằng mình phải thực sự đau đớn, như Chúa đã thực sự đau đớn. Đó mới là theo Chúa thực sự.
12.
Với những gì tôi vừa chia sẻ trên đây, tôi xin đưa tới một cảm nghiệm đau đớn, mà chính tôi đã trải qua, đó là:
Đôi khi những đau đớn coi như quá tàn nhẫn cứ mãi đổ trên mình một cách vô lý, tôi thấy đời mình như đi vào thất bại. Một đàng tôi cảm thấy mình như đã trở thành gánh nặng cho người khác, một gánh nặng họ muốn loại trừ. Một đàng tôi như mất niềm tin vào lòng khoan dung của người khác. Đó là một nỗi đau lớn, gây nên thương tích trong lòng tôi. Nó ảnh hưởng nhiều đến cái nhìn của tôi về chủ nghĩa thực dụng đang tràn vào Hội Thánh tại Việt Nam.
Nhưng Chúa vẫn thương tôi. Chúa dạy tôi hãy cứ khiêm nhường cầu nguyện. Và kết quả là cho đến bây giờ tôi vẫn tin vững vàng vào Lời Chúa: “Phải qua đau khổ mới tới được Phục sinh”. Đau khổ là cái giá phải trả để cứu chuộc các linh hồn khỏi lửa hoả ngục.Đau khổ có nhiều thứ và nhiều mức độ, Chúa không thử thách ai quá sức của họ.
13.
Đau khổ đã và đang được báo trước cho các môn đệ Chúa, trong đó có tôi. Tôi không biết những gì sẽ xảy ra cho chúng ta. Riêng tôi, tôi vẫn chuẩn bị trong tâm hồn mình bằng những ước mong là được theo Chúa và ở bên Chúa, trên con đường thương khó của Chúa.
Tôi chuẩn bị như vậy. Còn thực tế cuộc đời tôi luôn ở trong tay Chúa. Tôi coi đây là điểm rất quan trọng trong việc đào tạo sống chân lý Tin Mừng đích thực. Cho dù đau khổ trăm bề, tôi tin tôi vẫn hạnh phúc, vì được ở bên Chúa. Người vẫn thương tôi. Tuy nhiên phải thú thực điều này: Rất nhiều khi, tôi đã xin Chúa đừng bắt tôi uống chén đắng. Rất nhiều khi, tôi đã vác thánh giá, mà ngã quỵ xuống đất. Rất nhiều khi, người khác đã vác thánh giá thay tôi. Rất nhiều khi, tôi đã thốt lên những lời than cô đơn, khi bị treo lên thánh giá. Vì tôi quá yếu đuối. Lạy Chúa, xin xót thương con. Con tin đau khổ là trường đào tạo con. Con cảm tạ Chúa đang đào tạo con bằng đường thánh giá.

Long Xuyên 08.3.2015

XIN LÀ CON CÁI ĐÍCH THỰC CỦA THÁNH GIUSE

Nhân tháng kính thánh Giuse
XIN LÀ CON CÁI ĐÍCH THỰC
CỦA THÁNH GIUSE


1.
Từ còn rất nhỏ, tôi đã có lòng kính thánh Giuse. Trải qua nhiều thử thách, cuộc sống của tôi được như hôm nay, cũng nhờ ơn thánh Giuse.
Thánh Giuse đã dạy tôi rất nhiều. Ở đây, tôi xin được chia sẻ vắn tắt mấy ơn đặc biệt Ngài ban khi uốn nắn và đào tạo tôi.
2.
Ơn thứ nhất là thánh Giuse dạy tôi hãy tin vào Lời Chúa một cách tuyệt đối và đơn sơ.
Xưa thánh Giuse đã được Chúa dạy làm những điều rất khó hiểu, như nhận Trinh Nữ Maria nghèo làm bạn đời, như đem thánh gia nghèo trốn sang Ai Cập, như đưa Mẹ Con nghèo trở về Israel qua con đường kín đáo để sống âm thầm tại Nadarét. Thánh Giuse biết đó là những việc khó hiểu và khó thực thi. Nhưng Ngài tin vào Lời Chúa một cách đơn sơ và tuyệt đối. Tin khiêm nhường. Tin phó thác.
3.
Tôi cũng được Chúa dạy nhiều điều khó hiểu và khó làm trong bổn phận đối với người nghèo. Công đồng Vatican II dạy: “Khi sử dụng của cải, con người phải coi tài sản mình đang sở hữu cách chính đáng, không chỉ là của riêng mình, nhưng còn là của chung, trong ý nghĩa là của cải có thể sinh ích không những cho riêng mình, mà còn cho nhiều người khác.
Đàng khác, mọi người đều có quyền nhận được phần của cải đủ nuôi sống bản thân và gia đình mình. Đó là điều các Giáo phụ và các Tiến sĩ Giáo Hội đã nghĩ đến khi dạy mọi người hiểu về bổn phận phải giúp đỡ người nghèo, vì không phải chỉ giúp bằng của dư thừa... Trước con số quá lớn những người đói khổ trên thế giới, Thánh Công đồng tha thiết kêu gọi mọi người hãy nhớ đến lời sau đây của các Giáo phụ: Hãy cho kẻ sắp chết đói ăn, vì nếu không cho họ ăn là đã giết họ” (Giáo Hội trong thế giới ngày nay, số 68).
4.
Tôi khó hiểu và khó thực thi những lời sau đây: “Tài sản của tôi không là của riêng tôi, nhưng cũng là của chung.
“Tôi có bổn phậnn phải giúp đỡ kẻ nghèo, không phải chỉ bằng của dư thừa.
“Không cho kẻ sắp chết đói ăn, tức là đã giết họ”.
Thú thực là nhiều khi tôi chỉ đọc lướt qua những câu nói trên của Công đồng, bởi vì tôi như không muốn hiểu, để khỏi phải thực hành. Nhưng thánh Giuse không ngừng dạy tôi là phải vâng ý Chúa mà sống tốt với kẻ nghèo, như xưa Ngài đã thực hiện. Tạ ơn thánh Giuse, tôi đã vâng ý Ngài. Dần dần tôi cảm thấy mình phải tin vào Lời Chúa và phải sống tốt hơn với kẻ nghèo. Cho dù tôi chỉ làm được rất ít cho họ. Nhưng phần rất ít đó là rất quan trọng cho lương tâm tôi.
5.
Ơn thứ hai là thánh Giuse dạy tôi hãy coi chức vụ Chúa trao để mà phục vụ, và phục vụ thì phải khiêm nhường và tỉnh thức.
Xưa, thánh Giuse được Chúa chọn làm bạn trăm năm của Đức Mẹ Maria, là làm cha nuôi của Chúa Giêsu. Đó là những chức cao quyền trọng. Nhưng thánh Giuse chỉ coi những chức quyền ấy như những bổn phận phục vụ.
Phục vụ của Ngài được thực hiện một cách khiêm nhường. Ngài chôn vùi mình vào cuộc sống âm thầm. Nhiệt tình mà kín đáo. Tỉnh thức mà lặng lẽ. Vất vả nhọc nhằn mà thinh lặng. Ngài phục vụ với tất cả tấm lòng yêu thương. Phục vụ của Ngài là rất thiết thực: Làm đúng việc, đáp ứng đúng nhu cầu, vào đúng lúc, với đúng cách.
Phục vụ tế nhị của Ngài tạo nên một bầu khí ấm áp bao trùm thánh gia, xây dựng được các liên đới tốt với những người xung quanh.
6.
Thánh Giuse dạy tôi hãy sống cuộc đời phục vụ như Ngài. Tôi thực tình rất muốn theo gương Ngài. Nhưng thực tế không dễ dàng chút nào. Thói đời, thói đạo thường tạo ra vô số những hào quang giả, để gắn vào chân dung các người có quyền chức. Những người có quyền chưc nếu không tỉnh thức, cũng lại dễ hãnh diện với những hào quang đó. Thế là phục vụ cua họ sẽ rơi vào phô trương, nhiều khi tới mức ghê tởm mà không hay biết.
7.
Tôi xin thánh Giuse thương giúp tôi trong phục vụ. Ngài giúp tôi. Nhưng Ngài đòi tôi phải phấn đấu không ngừng. Vì thế, cho đến hôm nay, tôi vẫn phải phấn đấu rất nhiều. Trong phấn đấu có những lúc phải bắt đầu lại, với sám hối và cầu nguyện thiết tha. Tôi vững tin vào Chúa.
8.
Ơn thứ ba là thánh Giuse dạy tôi bất cứ việc gì tôi làm đều hãy được đóng dấu: Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế.
Xưa, khi sứ thần Thiên Chúa báo tin cho thánh  Giuse biết: Đức Maria sẽ hạ sinh con trai, thì sứ thần lại truyền lệnh cho Ngài là “Ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21).
Nay, thánh Giuse cũng theo hướng đó. Ngài dạy tôi làm gì cũng hãy gắn chặt vào danh Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế.
9.
Khi thực hành lời dạy trên đây của thánh Giuse, tôi hay bị lạc vào những thứ danh không phải là Đức Giêsu, mà là danh các thần khác. Nếu là danh Đức Mẹ, thánh Giuse và các thánh thì vẫn khá. Nhưng khốn nỗi, nhiều khi danh, mà tôi nêu lên và dựa vào lại là các cơ sở, cơ chế, công trình, tổ chức này nọ. Vô tình những danh đó lại là những bức cản hình ảnh Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế.
10.
Hiện nay, các thứ danh đang đua nhau dựng lên khắp Hội Thánh tại Việt Nam. Nhiều nơi, các danh đó đã quá nhiều, quá lớn, đến nỗi làm cho danh Chúa Giêsu bị trở nên lu mờ.
Phải nói: đây là một phát triển đạo một cách không lành mạnh. Thánh Giuse dạy tôi hãy vâng lời Công đồng Vatican II mà trở về tập trung vào Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Chỉ có Chúa Giêsu mới thắng được ma quỷ. Chỉ có Chúa Giêsu mới cứu được con người khỏi tội. Chỉ có Chúa Giêsu mới là của lễ đền tội có sức cứu được con người khỏi lửa hoả ngục.
11.
Mấy chia sẻ trên đây đang giúp tôi trở nên người con đích thực của thánh Giuse. Thời nay, lãnh vực nào cũng có cái thực cái giả. Trong lãnh vực đạo, rất nhiều người xưng mình là con thánh Giuse. Nhưng con đích thực mới thực sự đáng quý.
Cúi xin thánh Giuse thương giúp tôi luôn biết phấn đấu trở về, để là con đích thực của vị thánh khiêm nhường, đấng bảo vệ Hội Thánh của Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế.

Long Xuyên, 28.2.2015

Điều mong ước nhất những ngày tết



1
Những ngày tết, tôi thường phải bận rộn với các thứ mong ước. Trong lúc rối bời, tôi đến bên Đức Mẹ Maria. Như một trẻ thơ, tôi hỏi Mẹ: Mẹ ơi, con nên mong ước điều gì nhất?”. Tôi lắng nghe. Mẹ cho tôi nhớ lại giây phút Truyền tin. Mẹ được Tổng lãnh thiên thần Gabriel chào chúc: “Chúa ở cùng Bà” (Lc 1,28). Rồi Mẹ bảo tôi: Điều con nên mong ước nhất, chính là “được Chúa ở cùng con”.
2
Tin vào lời Mẹ, tôi lui vào nội tâm sâu thẳm, tôi cầu xin Chúa thương đến với tôi. Tôi đợi chờ và khao khát với tất cả tấm lòng nghèo khó khiêm cung. Trong giây phút không ngờ, Chúa đến với tôi. Tôi đã được gặp Chúa. Đúng là Chúa, Đấng hằng sống, Đấng uy quyền và giàu xót thương, Người đem tôi vào một sự sống mới. Sự sống mới đó chính là sự sống của Người.
3.
Tôi nhận ra Chúa đã yêu thương tôi. Chúa đã cứu tôi. Chúa đã ban ơn cho tôi. Chúa đã gọi tôi. Chính Chúa là hy vọng của tôi. Chúa là cùng đích của tôi. Chúa là Cha tôi.


4.
Chúa gọi tôi hãy đến với Người để Người được vui trong tôi, và để tôi được vui trong Người. Ở trong Chúa, tôi được Người gắn vào bản tính tự nhiên của tôi một cảm quan thiêng liêng, để tôi có thể nghe được tiếng Chúa, và nhận ra được sự hiện diện của Chúa.
5
Việc đầu tiên tôi làm sau đó là cùng với Đức Mẹ, ca tụng và tạ ơn Chúa. Tôi nhận thấy mình bất xứng. Ơn Chúa ban là ơn nhưng không.
6.
Bỗng chốc, tôi cảm thấy đời tôi có một chiều kích hướng thượng rất cao, tới Chúa là nguồn mọi sự sống, mọi hy vọng, mọi hạnh phúc.
7
Lúc đó, tôi tin Chúa, tức là tôi gắn bó với Chúa, tôi vâng phục Chúa, tôi đi về với Chúa. Chứ không phải chỉ là chấp nhận một hệ thống giáo lý.
8.
Tôi đi về với Chúa, qua đời sống yêu thương phục vụ con người. Tôi yêu thương phục vụ, như Chúa đã dạy và đã yêu thương phục vụ. Do vậy, mọi tình yêu của tôi dành cho người khác đều khởi đi từ nguồn vô tận là tình yêu Chúa. Nếu làm được gì tốt cho ai, tôi sẽ qui chiếu về Chúa, như lời Chúa phán: “Thầy là Cây nho, anh em là cành, ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh được nhiều hoa trái. Vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).


9.
Một thoáng chia sẻ trên đây cũng là những gì tôi vốn đã được cảm nhận ít nhiều suốt đời tôi, từ nhỏ đến giờ.
Vì thế, hôm nay khi được Đức Mẹ nhắn nhủ: Sự được Chúa ở cùng là điều nên mong ước nhất, tôi lại thêm xác tín tôi luôn cần được Đức Mẹ dạy dỗ, đào tạo vì tôi rất yếu đuối, dễ quên và ngại thực hiện.
10.
Với hết lòng khiêm nhường, tôi xin Chúa và Đức Mẹ thương tha tội cho tội.
Cảm tạ và xin lỗi là những việc cần làm chung với nhau, nhất là dịp Tết.
Điều tôi xin lỗi cách riêng ở đây là không dùng ơn Chúa ở cùng, để làm tốt bổn phận của tôi.
11.
Khi được Chúa ở cùng, đáng lẽ tôi phải phấn đấu hết sức để thi hành việc bổn phận một cách tốt nhất. Thí dụ bài giảng của tôi, dù với hình thức nào, cũng phải làm chứng là có Chúa ở cùng, được Chúa đóng dấu vào. Nhưng biết bao lần, thực tế đã không luôn được như vậy. Tôi xin sám hối, cầu xin Chúa thứ tha.
12.
Khi được Chúa ở cùng, đáng lẽ tôi phải có ý thức về thời gian như Chúa. Thí dụ, khi làm mục vụ, đáng lẽ tôi phải khiêm tốn đợi chờ kết quả một cách kiên trì, như Chúa vẫn làm. Nhưng tôi thì nóng vội, cái gì cũng muốn phải có kết quả ngay. Đó là điều sai lầm của tôi. Tôi xin sám hối. Xin Chúa thương tha thứ cho tôi.


13.
Khi được Chúa ở cùng, đáng lẽ tôi phải quên đi cái tôi của tôi, nhưng bao lần cái tôi của tôi vẫn hiện diện trong các việc tôi làm, kể cả các việc đạo đức. Đó là điều yếu đuối của tôi. Tôi xin sám hối. Xin Chúa thương tha thứ cho tôi.
Khi được Chúa ở cùng, đáng lẽ tôi phải tỉnh thức chiến đấu với quỉ satan, nó luôn tìm cách phá vỡ bất cứ chương trình nào có tính cách cứu độ của Chúa. Nhưng nhiều khi tôi đã chủ quan, không nghĩ tới kẻ thù vô hình đó. Tôi xin sám hối. Xin Chúa thương tha thứ cho tôi.
14.
Khi được Chúa ở cùng, đáng lẽ tôi phải coi đau khổ là điều kiện cần vốn đi liền với thánh giá cứu chuộc. Nhưng bao lần tôi đã tránh xa và có khi phản bội thánh giá. Tôi xin sám hối. Xin Chúa thương tha thứ cho tôi.
15.
Khi được Chúa ở cùng, đáng lẽ tôi phải rao giảng sự hòa giải, sự tha thứ. Nhưng bao lần, tôi đã không làm đủ, làm đúng. Tôi xin sám hối. Xin Chúa thương tha thứ cho tôi.
16.
Để kết, tôi xin phép nói thêm điều này: Với ơn được Chúa ở cùng, tôi thường nhìn mọi người đến với tôi, như một bức thư Chúa gửi cho tôi. Dù là ai, họ đều là một bức thư Chúa gửi cho tôi. Tôi đọc thư đó được viết trong tâm hồn họ, trên trái tim họ. Chúa viết. Và tôi đã hiểu tình Chúa mênh mông, giàu xót thương và nhân ái.
Đó là cái Tết thánh hóa đời tu của tôi. Xin thân ái kính chúc anh chị em “được Chúa ở cùng anh chị em”.

                                            Tết Ất Mùi, Long Xuyên 09.02.2015

LO CỨU NHỮNG CON NGƯỜI


1.
Trong mấy ngày nay, tôi được hạnh phúc sống thân mật với Chúa Giêsu một cách hơn thường. Chính nhờ Người, với Người và trong Người. Tôi xin cảm tạ Người đã đến với tôi, trong hoàn cảnh tôi cảm thấy mình rất tồi tệ.
Trong những khoảnh khắc thân mật ấy, tôi đã gọi Chúa Giêsu bằng nhiều tước hiệu khác nhau, như Ngôi Hai nhập thể, Chúa chiên lành, Vua vũ trụ, vv... Nhưng sau đó, Chúa Giêsu dạy tôi là Người muốn tôi cứ gọi Người là Đấng Cứu Thế.
2.
Từ tên gọi đó, Chúa Giêsu đã dạy tôi điều này: Sống thân mật với Người, thì hãy cùng với Người lo cứu thế gian.
Cứu thế gian là công việc quá lớn. Tôi rất yếu đuối. Nhất là lúc này, yếu đuối của tôi đang trở thành nỗi nguy. Tôi trình bày với Chúa như vậy. Nhưng Chúa trấn an tôi, bằng cách Người bảo tôi hãy nhìn vào thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu.
Tôi xin vâng. Ngay cạnh tôi là mấy cuốn sách ghi lại tư tưởng và cuộc sống người nữ tu dòng Kín thành Lisieux. Tôi đọc lại. Tôi thấy người nữ tu trẻ ấy đã dạy tôi cách cứu thế gian ngay trong cuộc sống âm thầm thường ngày với đời tu nhiệm nhặt. Tôi xin ghi lại vài nét chính rất gợi ý cho tôi.
3.
Thánh nữ đưa ra một chuyện biến ngôn. Có một vị lãnh chúa muốn xây một thánh đường nguy nga dâng kính Thiên Chúa. Ông ra sắc lệnh, kêu gọi những ai có của phải góp phần vào. Từ khắp nơi, đoàn ngựa kế tiếp nhau chở vật tư đến nơi xây cất. Các chủ vật tư đều là những người giàu có. Đang khi đó, một người đàn bà rất nghèo cũng muốn dâng cúng. Nhưng bà chỉ đủ tiền mua một sọt cỏ. Bà đưa cỏ cho mấy con ngựa chở vật tư ăn. Khi thánh đường được xây cất xong, vị lãnh chúa truyền ghi trên tấm bảng tên của mình và của các ân nhân, được gắn vào tường thánh đường. Nhưng, qua một đêm, trên tấm bảng đó các tên đã ghi đều bị xoá, và thay vào đó là tên một người đàn bà vô danh. Vị lãnh chúa phẫn nộ, truyền làm lại tấm bảng. Nhưng đêm sau, các tên trên bảng lại bị xoá, và lại ghi tên một người đàn bà vô danh. Ông liền điều tra. Sau cùng, ông được gặp người đàn bà nghèo đó. Bà nói thật bà chỉ cho ngựa ăn mớ cỏ, mà bà đã bỏ hết tiền của bà ra để mua. Vị lãnh chúa hiểu trước mặt Chúa bà là người có nhiều công nhất.
Từ chuyện biến ngôn trên đây, thánh nữ Têrêsa nghĩ về chính mình. Trong việc xây dựng Hội Thánh, ngài sẽ chỉ làm những việc bé nhỏ, âm thầm, nhưng tin chắc Chúa sẽ căn cứ vào tình yêu hơn là việc làm.
Bài học trên đây rất dễ hiểu. Tôi áp dụng cho tôi. Tôi sẽ chỉ đủ sức làm những việc nhỏ. Nhưng tôi đem tất cả tình yêu của tôi vào những việc nhỏ đó. Chúa sẽ thương nhận, để góp phần xây dựng Hội Thánh, và cứu các linh hồn. Xin hết lòng tạ ơn Chúa đã ban cho tôi một trái tim biết yêu thương.
4.
Về việc cứu các linh hồn, thì thánh nữ Têrêsa đã cho tôi một bài học cũng dễ hiểu. Có lần ngài đã nói với các em đệ tử của ngài: “Nếu chị phải ở luyện tội cho đến tận thế, để cầu nguyện, chỉ để cứu lấy một linh hồn mà thôi, thì hãy để mặc chị”.
Qua lời nói trên đây, thánh nữ cho thấy ngài rất quên mình để cứu các linh hồn. Yêu thương và hy sinh chịu đau khổ, để cứu các linh hồn, đó là niềm vui ngài muốn dâng lên Chúa.
Một nữ tu trẻ dòng Kín có được một khao khát cứu các linh hồn như thế, quả là một tiếng Chúa đánh thức lương tâm tôi. Tôi có nhiều cách để tránh né tiếng gọi đó. Nhưng nếu làm thế, tôi sẽ chỉ chuốc khổ vào thân. Tôi sẽ chẳng cứu được ai, và cũng chẳng cứu được chính mình. Tôi cảm tạ Chúa đã cho tôi nghị lực để dấn thân cứu các linh hồn bằng cầu nguyện và hy sinh âm thầm trong chính hoàn cảnh già yếu hiện giờ của tôi.
5.
Trong một lá thư gởi chi Céline, thánh nữ Têrêsa đã viết: “Chúng ta hãy sống cho các linh hồn nhất là hãy cứu linh hồn các linh mục. Bởi vì có những linh mục xấu. Hãy chịu hy sinh cho các ngài. Đến ngày tận thế, Chúa Giêsu sẽ biết ơn chúng ta về việc đó”. Đọc đoạn thư trên đây, tôi rất xúc động. Tôi nghĩ là đã có nhiều người cầu nguyện cho tôi được trở nên đạo đức theo thánh ý Chúa. Riêng tôi rất xác tín là việc quên mình để cứu các linh mục là điều quan trọng và khẩn thiết Chúa chờ đợi mỗi người chúng ta. Có những linh mục xấu, nữ tu Têrêsa dám nói như thế, chỉ vì thương, chứ không vì khinh.
6.
Càng về cuối đời, thánh nữ Têrêsa càng nói nhiều tới sự phải từ bỏ mọi sự và từ bỏ chính mình, để yêu thương và hy sinh cho các linh hồn. Ngài không ngại tỏ lộ các thứ khổ đau ngài phải chịu.
7.
Tuy nhiên, có một điều tôi lấy làm lạ, đó là thánh nữ xem ra khắc khổ, nhưng lại rất dễ thương. Chính vì ngài sống theo tinh thần thơ ấu thiêng liêng. Khi hành hương ở Lisieux, tôi cảm thấy rất rõ vẻ đẹp dễ thương của thánh nữ toả ra khắp nơi.
Tôi sực nhớ lại đoạn Phúc Âm sau đây của thánh Luca: “Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giêsu hớn hở vui mừng và nói: ‘Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín, không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha’” (Lc 10,21).
8.
Một thoáng nhìn trên đây về thánh nữ Têrêsa thành Lisieux đã đưa tôi đến kết luận này: Nhiều người bé mọn đã cứu được các linh hồn một cách hiệu quả. Chính các linh mục cũng cần đến những người bé mọn, để có thể trở về với Chúa. Chính tôi cũng đã được họ cứu.
Tôi xin tận tình cảm ơn họ.
9.
Tôi xin Chúa cho tôi luôn biết sống bé mọn, và luôn biết cậy nhờ đến những kẻ bé mọn. Đó là cách cứu các linh hồn, rất hợp với tôi, nhất là lúc này, trong hoàn cảnh tuổi già sức yếu. Thiết tưởng, đó cũng là cách, chính Chúa nhắn gởi tất cả những môn đệ Chúa, bất cứ họ là ai đang sống trên Quê Hương Việt Nam lúc này.
Truyền giáo trên đất nước Việt Nam này trong hoàn cảnh hiện nay không thể coi thường mô hình thánh nữ Têrêsa thành Lisieux. Tôi tin chắc như vậy. Tòa Thánh cũng đang nhắc cho tôi điều đó.
Lạy Chúa, con xin hết lòng cảm tạ Chúa đã dạy con bổn phận và cách cứu các linh hồn. Xin Chúa thương giúp con biết kiên trì thực hiện những điều Chúa đã dạy con.

Long Xuyên, ngày 6.1.2015.