Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014

ĐỨC MẸ VIẾNG THĂM


1.  Mấy ngày nay tôi đau nhiều. Đêm rồi, những cơn đau làm tôi không sao ngủ được. Tôi nghĩ tới lễ Đức Mẹ đi thăm Bà Elisabét (31.5.2014). Tôi lần chuỗi mân côi, và nói với Đức Mẹ: “Mẹ ơi, con đau lắm, đứng lên không được. Xin Mẹ thương con. Mẹ có thể đến thăm con, được không?”. Tôi nói như thế nhiều lần. Rồi lại lần chuỗi.
2. Một lát sau, tôi cảm thấy có một sự gì lạ xảy ra trong tôi. Tôi dần dần như được trầm mình vào một dòng nước thiêng liêng. Dòng nước thiêng liêng ấy rửa tôi khỏi tình trạng lo âu. Tôi cảm thấy tâm hồn được bình an nhẹ nhàng. Tôi thấy mình thực bé nhỏ, hèn mọn, yếu đuối. Đột nhiên, tôi nhớ lời Chúa Giêsu phán xưa: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất, mà không thối đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình. Còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Với lời đó, Chúa dạy tôi và các môn đệ Chúa hãy là hạt lúa gieo vào lòng đất, để chịu chết đi, thì mới được cùng với Chúa cứu các linh hồn.
3. Khi đề cập đến việc cứu các linh hồn, tự nhiên tôi được một ánh sáng thiêng liêng cho thấy: Hiện nay rất nhiều người đang bị quỷ Satan khống chế, xiềng xích, lôi kéo từ tội nọ sang tội kia. Để sau cùng phải sa xuống hoả ngục. Cứu được chỉ một người ra khỏi quyền lực Satan đã là chuyện không dễ chút nào, phương chi cứu nhiều người. Ngay để cứu chính mình cũng là việc không tự mình làm được. Dứt khoát phải nhờ vào Chúa. Mà, để được Chúa cứu, thì hãy khiêm nhường. Hết sức khiêm nhường.
4. Tôi như thiếp đi. Rồi tỉnh lại. Tôi nhận ra là Đức Mẹ đã đến thăm tôi. Tôi không nhìn thấy Đức Mẹ. Nhưng chính ở sự Đức Mẹ đến một cách kín đáo tế nhị, mà tôi càng mến phục sự khiêm nhường của Đức Mẹ.
Tôi cảm được sự khiêm nhường của Mẹ là một vẻ đẹp và là một hương thơm, dấu chỉ tình yêu cứu độ của Mẹ.
5. Việc Đức Mẹ thăm tôi đã qua rồi. Tôi hết lòng cảm tạ Mẹ. Có hai điều Mẹ để lại trong tôi một cách đặc biệt.
Điều thứ nhất là cảnh nhiều người thời nay bị Satan khống chế.
Chính tôi đã thấy và đang thấy cảnh đó. Thực là ghê gớm. Phúc Âm kể lại một người bị quỷ ám xin Chúa cứu. Chúa hỏi quỷ tên là gì? Nó thưa: Tên tôi là đạo binh. Chúa bắt quỷ phải ra khỏi người đó. Chúng nhập vào đàn heo gần đấy. Đàn heo rất đông từ sườn đồi lao mình xuống vực thẳm (x. Lc 8,26-33). Tôi dám nói là hiện nay các đạo binh quỷ nhập vào một người, một gia đình hay một cộng đoàn cũng đang xảy ra, tuy dưới hình thức nhẹ hơn. Chúng vẫn còn đó. Những người bị ác thần nhập nhiều khi cảm thấy rất khổ, muốn thoát, nhưng không tự mình thoát được. Đức Mẹ dạy tôi là các con của Mẹ hãy sống như hạt lúa gieo vào lòng đất, làm của lễ hy sinh, để cùng với Chúa Giêsu mà cứu họ.
6. Điều thứ hai là sự nhiều môn đệ Chúa thời nay đang dần dần coi thường đức khiêm nhường.
Đúng lý ra, người môn đệ của Chúa phải luôn coi mình là kẻ được Chúa sai đi, vì thế phải quan tâm làm tốt những gì Chúa muốn mình làm vì lợi ích các linh hồn. Sống như thế đòi phải rất khiêm nhường. Nhưng thực tế đang xảy ra khác. Nhiều người môn đệ Chúa lại tự đánh giá mình theo những gì mình biết làm, theo khả năng của mình, như mọi người trong xã hội mình sống, chứ không như Chúa muốn. Do đó, họ coi cạnh tranh uy tín, địa vị là bình thường, coi đấu tranh giành thắng lợi cả trong lãnh vực tôn giáo cũng là chuyện hãnh diện, coi tìm vinh quang cho cá nhân mình cũng là làm cho Chúa.
7. Những điều trên đây được Mẹ nhắc nhủ cho tôi. Tôi nhận biết là đạo đức đang xuống dốc ở ngoài đời cũng như ở trong đạo. Tôi quyết sửa ngay nơi bản thân tôi. Nhưng thú thưc tôi chưa làm đủ, làm đúng như Chúa muốn. Tôi sám hối và cầu xin Mẹ thương thêm sức cho tôi. Đức Mẹ thôi thúc tôi hãy tận dụng thời gian còn lại để cùng với Chúa cứu các linh hồn. Nếu chần chừ, tưởng chừng mọi sự sẽ êm xuôi cả, chẳng có gì xấu sẽ xảy ra đâu, thì ai biết được những bất ngờ có thể xảy ra!
8. Khi tôi đang ngồi viết gần xong bài này, thì tôi nghe còi xe cứu hoả rú. Từ xa rồi gần lại. Tôi mở cửa đi ra, thì thấy xe cứu hoả đang ở sân Toà Giám Mục. Tôi hoảng sợ. Hỏi ra, thì biết dân xung quanh thấy khói đen bốc ra từ một căn phòng khu nhà góc Toà Giám Mục. Họ gọi xe cứu hoả. Đúng là đang có cháy do chập điện. May mà kịp cứu. Tôi nghĩ tới những bất ngờ.
9. Thực sự tôi đang thấy những bất ngờ đau đớn đang xảy ra đó đây trên thế giới, trong khu vực, trên Quê Hương và ngay tại địa phương bé nhỏ này. Bất ngờ này kéo theo bất ngờ khác. Tôi hỏi Đức Mẹ, thì Mẹ cho tôi nhớ lại tất cả những gì Đức Mẹ đã cảnh báo ở Fatima. Sẽ có những cơn đau đớn bất ngờ khủng khiếp xảy ra, nếu người ta không sám hối và khiêm nhường tỉnh thức.
Tôi cầu xin Mẹ thương đến viếng thăm Đất Nước Việt Nam yêu dấu của tôi. Xin Mẹ ban cho tất cả đồng bào tôi được yêu thương nhau, biết bảo vệ và phát triển những giá trị đạo đức thiêng liêng cao quý.
Lạy Mẹ, xin đến cứu con khỏi mọi tội lỗi.
Long Xuyên, ngày 24.5.2014
ĐGM. JB. Bùi Tuần

Thứ Ba, 20 tháng 5, 2014

SÁM HỐI VÀ VỮNG TIN VÀO CHÚA


1. Từ mấy tuần qua, tình hình khắp nơi càng ngày càng đáng lo ngại. Lo ngại cho Đất Nước, cho Hội Thánh, cho cả thế giới, cho chính chúng ta.
2. Như để trả lời, Chúa đưa trí khôn tôi nhớ lại đoạn Phúc Âm sau đây của thánh Luca:
Có mấy người đến kể lại cho Đức Giêsu nghe chuyện những người Galilê bị tổng trấn Philatô giết, khiến máu đổ ra hoà lẫn với máu tế vật họ đang dâng. Đức Giêsu đáp lại rằng: “Các ông tưởng mấy người Galilê đó tội lỗi hơn hết mọi người Galilê khác, bởi lẽ họ đã chịu đau khổ như vậy sao? Tôi nói cho các ông biết: Không phải thế đâu. Nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy.
Cũng như 18 người kia bị tháp Silôa đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giêrusalem sao? Tôi nói cho các ông biết: Không phải thế đâu. Nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy” (Lc 13,1-5).
3. Suy gẫm đoạn Phúc Âm trên đây, tôi hiểu Chúa muốn dạy tôi điều này: Để cứu khỏi những thảm khốc có thể sắp xảy ra cho Quê Hương, cho Hội Thánh, cho thế giới, cho chính chúng ta, những người tin Chúa hãy coi sám hối là việc quan trọng phải thực hiện ngay.
Có nghĩa là: Đấng có thể cứu chúng ta là Chúa. Chúa quyền năng sẽ cứu chúng ta khỏi tội và hậu quả bởi tội gây nên. Để đón nhận ơn cứu độ ấy, chúng ta phải sám hối.
4. Tôi vâng ý Chúa mà sám hối. Để có thể sám hối đúng theo ý Chúa, tôi cầu nguyện với hết lòng tin cậy, khiêm nhường và phó thác.
Chúa dần dần giúp sám hối của tôi không những để ý đến các tội tôi quen phạm, mà còn phải để ý đến những tình trạng nguy hiểm thường dẫn con người vào tội lỗi. Thí dụ ba tình trạng sau đây:
5. Tình trạng thứ nhất là cảnh tối tăm trong tâm hồn. “Ai bước đi trong bóng tối, thì không biết mình đi đâu” (Ga 12,35).
Cảnh tối tăm này không phải là những tính mê nết xấu, mà chính là sự thiếu ánh sáng của Chúa.
Vì thiếu ánh sáng của Chúa, tâm hồn con người sẽ không có định hướng nội tâm, để mình trôi dạt theo tình thế bên ngoài và theo những thúc đẩy bên trong tức thời.
Thiếu ánh áng của Chúa, tâm hồn con người sống vô trật tự, nên đi từ sai lầm này đến sai lầm khác, mà chẳng bao giờ nhận ra tại sao mình lại rơi vào những hậu quả thảm khốc như thế.
Một đặc điểm nữa của người thiếu ánh sáng của Chúa, là họ xa tránh mọi giải pháp dựa trên Lời Chúa. Họ như không muốn ra khỏi tình trạng tối tăm. Họ ghét ánh sáng Lời Chúa.
6. Tình trạng thứ hai là lối sống giả dối. Giả dối là dấu của quỷ “Quỷ là cha sự gian dối” (Ga 8,44).
Thí dụ như thói quen để tránh nhiệm vụ mình có trách nhiệm, thì lao mình vào những bận rộn không phải nhiệm vụ của mình. Để che đậy sự trống vắng nội tâm, thì hăng say làm những việc bề ngoài ồn ào hoành tráng.
Đạo đức căn cứ vào những hình thức và luật lệ bề ngoài, tự đeo vào mình những hào quang giả. Cố chấp tự coi mình là thánh, xác hồn trắng tinh.
7. Tình trạng thứ ba là làm nô lệ. “Ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội” (Ga 8,34). Thí dụ thích tìm khoái lạc ở những thói quen xấu có tính cách khống chế sự tự do đích thực của mình.
Bị chi phối quá mạnh bởi những thành kiến. Bị sai khiến bởi những dư luận, những phong trào, những khích động, mà không tỉnh táo cân nhắc.
Bị ràng buộc một cách quá đáng vào những chương trình do chính mình đặt ra, và những luật lệ cứng nhắc không luôn cần thiết, mặc dù lợi ích chung đòi phải linh động. Nô lệ sự xét đoán chủ quan của mình.
Bị ám ảnh bởi những kế hoạch có tính cách tìm danh vọng, tiền bạc, địa vị.
Bị căng thẳng bởi những ghen tương, tranh chấp, xung đột, hiếu thắng.
8. Khi rà soát nơi tôi về ba tình trạng nói trên, tôi thấy cần phải có ơn Chúa, mới nhận ra được những cái xấu và những cái nguy hiểm ẩn tàng trong đó.
Và cho dù đã nhận ra rồi, nếu muốn thực tình gớm ghét chúng, và muốn thực tình muốn thoát ra khỏi chúng, tôi càng thấy phải có thực nhiều ơn Chúa.
Bởi vì kinh nghiệm cho thấy: Sự cứng lòng nơi con người là rất lớn, sự yếu đuối và tự ái nơi con người là rất nặng. Tôi nhớ lại những lời than của thánh Phaolô xưa: “Muốn sự thiện, thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn thì tôi lại cứ làm... Bởi đó, tôi khám phá ra luật này: Khi tôi muốn làm sự thiện thì lại thấy sự ác xuất hiện ngay... Tôi thật là một người khốn nạn. Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? Tạ ơn Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 7,18-25).
9. Tôi tin rằng: Chúa Giêsu sẽ cứu chúng ta khỏi tình hình đầy nguy hiểm hiện nay. Người cứu cách nào? Thưa: Chúa có cách của Chúa. Phần chúng ta, chúng ta phải cộng tác vào ơn Chúa cứu độ, bằng sự chúng ta biết tỉnh thức, cầu nguyện sám hối, và như thế mỗi người chúng ta sẽ trở thành của lễ đền tội, góp phần vào của lễ đền tội mà Chúa Giêsu đã dâng để cứu chuộc nhân loại.
10. Nhưng nếu sự giải cứu ấy cũng sẽ là một cuộc thanh luyện, do đó sẽ xảy ra những biến cố khủng khiếp như Đức Mẹ đã báo ở Fatima, thì chúng ta ngay từ bây giờ, hãy chạy lại với Đức Mẹ, xin Mẹ thương đến chúng ta.
Tại Fatima, Đức Mẹ khuyên con cái Mẹ: “Hãy cải thiện đời sống, hãy tôn sùng Trái Tim Mẹ, hãy năng cầu nguyện chuỗi mân côi”. Chúng ta hãy vâng lời Mẹ, mà trở về với Chúa bằng những việc Mẹ dạy.
Dù trong hoàn cảnh nào, hãy vững tin vào lòng thương xót Chúa, theo gương Đức Mẹ. Với Mẹ, nhờ Mẹ và bên Mẹ, chúng ta tin Chúa sẽ cứu tất cả những ai thiện tâm thiện chí.
Ngay lúc này, tôi nhận ra ơn Chúa cứu tại Đất Nước Việt Nam đã bắt đầu, đó là đồng bào ta đang siết lại gần nhau hơn, thắm thiết yêu thương nhau hơn, trong lý tưởng cao đẹp thiêng liêng là kiên quyết bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam yêu dấu của chúng ta.

  
Long Xuyên, ngày 18 tháng 5 năm 2014.
ĐGM. GB. Bùi Tuần

Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2014

ĐẠO ĐỨC XUỐNG DỐC

1.
Tôi đang sống một tình trạng xuống dốc thê thảm. Sức khoẻ thể xác xuống dốc toàn diện. Chỗ nào cũng đau. Sức khoẻ tinh thần cũng giảm sút. Tôi cảm thấy mình yếu đuối mệt mỏi. Tôi xin chấp nhận. Nhưng điều tôi sợ nhất là xuống dốc về đạo đức. Tôi tha thiết muốn đạo đức nơi tôi không xuống dốc.
Tôi cầu xin Chúa giúp tôi nên dựa vào những dấu chỉ nào để biết được điều đó, ít là phần nào.
2.
Chúa thương soi sáng cho tôi bằng cách đưa lòng trí tôi nhớ lại sự việc đã xảy ra ở hồ Genêxarét xưa.
“Giảng xong, Chúa Giêsu bảo ông Simon: ‘Hãy chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá’. Ông Simon đáp: ‘Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới’. Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm.
Thấy vậy, ông Simon Phêrô sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói: ‘Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi’.
Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Simon và tất cả những người có mặt ở đó đều kinh ngạc. Cả hai người con ông Dêbêđê, là Giacôbê và Gioan, bạn chài với ông Simon cũng kinh ngạc như vậy.
Bấy giờ, Đức Giêsu bảo ông Simon đừng sợ, từ nay anh sẽ là người cứu sống người ta. Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Chúa Giêsu” (Lc 5,4-11).
3.
Suy gẫm và cầu nguyện với đoạn Phúc Âm trên đây, tôi được Chúa cho thấy mấy điều sau đây nên được coi là dấu chỉ của lòng đạo đức nơi người môn đệ Chúa.
Dấu chỉ thứ nhất là thánh Phêrô biết kinh ngạc nhận ra việc lạ lùng Chúa làm cho mình.
Dấu chỉ thứ hai là thánh Phêrô biết nhận ra mình tội lỗi, bất xứng, khó nghèo.
Dấu chỉ thứ ba là thánh Phêrô bỏ mọi sự đi theo Chúa, vì mến Chúa và vì thương muốn cứu con người.
4.
Trong ba dấu chỉ trên đây, dấu chỉ khiêm tốn khó nghèo nên được nhấn mạnh. Như Đức Mẹ xưa đã nhận biết mình chỉ là “nữ tỳ hèn mọn” (Lc 1,48). Đó là dấu chỉ đáng tin về đạo đức. Không những thánh Phêrô nhận biết mình hèn mọn, bất xứng và nói ra sự nhận biết đó bằng miệng, mà còn diễn tả ra bằng thái độ, đó là Ngài sấp mặt xuống dưới chân Chúa Giêsu trước mặt các anh em.
Chính lúc Ngài nói: “Xin Chúa tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi” thì lại là lúc Chúa ngự một cách thiêng liêng vào tâm hồn Ngài. Nhờ vậy, Ngài đã dư sức bỏ mọi sự mà theo Chúa Giêsu, vì mến Chúa và cứu con người một cách chân thành và tuyệt đối.
5.
Với ba dấu chỉ trên đây, tôi nhìn vào các môn đệ Chúa xung quanh đây, đặc biệt là nhìn vào chính bản thân tôi, để biết tình hình đạo đức có thực sự là đáng khả quan không.
Thú thực là giữa cuộc sống ồn ào, tôi không nhìn thấy rõ. Nhưng khi Chúa đưa tôi vào một thứ sa mạc nội tâm, chỉ còn Chúa và tôi, tôi được biết phần nào. Kết quả là tôi thấy phải sám hối rất nhiều. Tôi rất cần được cứu. Đấng cứu tôi là Chúa Giêsu.
6.
Nhưng để Chúa Giêsu cứu tôi, thì tôi cần gặp Người. Mà muốn gặp được Người, thì tôi cần “tỉnh thức và cầu nguyện” (Mc 14,28). Bởi vì Người đến lúc nào, cách nào, dưới hình thức nào, thì tuỳ ý Người, chứ không theo chương trình và ý muốn của tôi.
Trong tỉnh thức và cầu nguyện, đều phải có sự khao khát gặp Chúa và vâng ý Chúa, với sự khó nghèo nội tâm.
Khó nghèo nội tâm là khiêm nhường đừng phô trương thành tích đạo đức.
7.
Dụ ngôn người Pharisêu kể với Chúa những con số thành tích và tự hào mình đạo đức hơn người thu thuế (x. Lc 18,11-12) dạy tôi phải rất khiêm tốn và khó nghèo trong các thứ lễ tạ ơn hiện nay, cũng như trong các thứ biểu dương bác ái và công bình của Hội Thánh chúng ta trong xã hội Việt Nam lúc này.
8.
Những lời Chúa Giêsu nói về người môn đệ chân chính (Mt 7,21-27) cũng dạy tôi phải tỉnh thức và cầu nguyện không ngừng. Nếu không, tôi cũng sẽ lầm tưởng tôi là môn đệ chân chính của Chúa, được Chúa khen thưởng, vì đã làm sáng danh Chúa bởi những việc lẫy lừng nhân danh Chúa. Nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm phép lạ, đó là những việc coi như chắc chắn làm chứng cho Chúa, ai ngờ Chúa lại gọi những kẻ làm thế là phường gian ác (x. Mt 7,23). Phương chi là những công trình vật chất. Chỉ vì họ không làm theo ý Chúa.
9.
Làm theo ý Chúa là thế nào? Thưa, tiên vàn là phải sống kết hợp với Chúa. Khi tôi vâng ý Chúa, mà luôn sống kết hợp với Chúa một cách chặt chẽ như cành nho với cây nho (x. Ga 15,1-5) thì dần dần trái tim tôi được đổi mới. Tôi được Chúa cho cảm thấy Thiên Chúa là tình yêu. Chứ Thiên Chúa không là lề luật.
Từ cảm nghiệm đó, tôi nghĩ tới việc xây dựng đạo đức cho tôi và cho cộng đoàn của tôi. Theo tôi, xây dựng đạo đức không phải là bằng cách ra nhiều lề luật, mà là hãy đạo tạo trái tim cho biết yêu thương như Chúa yêu thương.
10.
Tôi nhớ tới lời Chúa Giêsu trối lại trong bữa Tiệc Ly: “Thầy ban cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy yêu thương các con” (Ga 13,34).
Yêu thương cũng là một lề luật. Luật cua nó là hãy mang lửa trong mình, đó là những thao thức biết lo cho người khác khỏi khổ, nhưng được sự lành, nhất là khỏi phải sa hoả ngục, nhưng được lên thiên đàng. Cũng hãy mang thánh giá trong mình, đó là chịu hy sinh để đền tội thay cho người khác và để góp phần vào sự thương khó Chúa Giêsu mà cứu họ, để họ được rỗi.
11.
Tôi cảm tạ Chúa đã ban cho Hội Thánh điều răn mới đó. Nhờ vậy, đã có vô số tín hữu đã biết cho đi và biết lãnh nhận tình yêu phục vụ hy sinh, làm cho cộng đoàn trở thành cộng đoàn yêu thương, làm chứng cho Chúa là tình yêu.
Chính tôi cũng đã và đang được hưởng phúc lành của lòng đạo đức đó. Chính tôi cũng đã và đang chia sẻ lòng đạo đức đó, mà tôi đã được lãnh nhận một cách dồi dào.
12.
Tôi xin Chúa cho lòng đạo đức này mãi mãi tăng lên cả bề rộng lẫn bề sâu. Chỉ Chúa mới giúp tôi được điều đó. Tới đây, tôi thấy: Đạo đức của tôi lên hay xuống dốc, thì chỉ một mình Chúa biết rõ mà thôi. Phần tôi, tôi luôn nhận biết mình là kẻ tội lỗi yếu hèn, nhưng lại được Chúa rất yêu thương. Nên tôi cố gắng thực hiện yêu thương một cách tốt nhất với đồng bào của tôi, Quê Hương của tôi và Hội Thánh của tôi.
Đến muôn đời con cảm tạ ơn Chúa.


Long Xuyên, ngày 10 tháng 5 năm 2014.
ĐGM.GIOAN B. BÙI TUẦN

Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2014

THÁNG NĂM NĂM ẤY



1.
Hiện giờ, tôi đang sống những ngày đầu của tháng Năm năm 2014. Bầu khí hiện giờ là rất tưng bừng. Cả nước đều mừng.
Tôi vui niềm vui chung và cũng với niềm vui riêng. Riêng ở chỗ tôi kỷ niệm 39 năm thụ phong Giám mục.
2.
Được thụ phong đúng ngày 30 tháng 4 năm 1975 theo sắc chỉ của Toà Thánh, tôi mang trên mình một nhiệm vụ rất quan trọng, đó là giúp cho giáo phận được sống đức tin một cách vững vàng trong tình hình mới.
Tình hình mới có nhiều vấn đề mới, nhiều thách đố mới, nhiều khó khăn mới. Hôm nay đã được 39 năm, đức tin ở đây không những vững vàng, mà còn phát triển tốt đẹp.
3.
Nhiều người hỏi tôi: được như hôm nay là nhờ đâu? Tôi xin chia sẻ vắn tắt và chân thành.
Đây là ơn đặc biệt Chúa ban. Rất nhiều người đã cộng tác vào ơn đó. Tôi chỉ góp phần rất nhỏ. Ở đây tôi xin tâm sư đơn sơ về phần đóng góp mọn hèn đó.
4.
Ngay từ những giây phút đầu tiên của những ngày đầu tiên của tháng Năm năm 1975, lúc tình hình đang diễn tiến phức tạp, và mọi người ở đây đang rất hoang mang sợ hãi, tôi đã nhìn Đức Mẹ Maria, như một trẻ thơ nhìn mẹ mình. Tôi nói đơn sơ với Đức Mẹ: “Mẹ ơi, xin Mẹ ở bên con. Con tin Mẹ thương con”. Rồi lúc nào, tôi cũng cầm chuỗi tràng hạt Mân côi. Hễ rảnh là đọc kinh Kính Mừng.
5.
Thực sự, Đức Mẹ luôn ở bên tôi. Lúc nào Đức Mẹ cũng nhắc cho tôi một lời vắn tắt: “Con hãy bước theo Đức Kitô”.
Vâng lời Mẹ, tôi nhìn Đức Kitô, tôi ngắm suy cuộc sống Đức Kitô, tôi cầu nguyện với Đức Kitô. Nhờ vậy trái tim tôi được đổi mới.
6.
Việc đổi mới được thực hiện mỗi ngày. Càng ngày tôi càng bước theo Chúa Giêsu trên đường yêu thương.
Yêu thương như Người yêu thương, để là dấu chỉ đích thực người môn đệ của Người (x. Ga 13,15).
Yêu thương trong Người, là Đấng đã yêu thương chúng ta trước khi chúng ta mến Người (x. Ga 4,9).
Yêu thương nhờ Người, là Đấng đã phó mạng sống mình vì chúng ta (x. Ga 2,20).
Yêu thương như vậy là sống hoà giải nhờ máu của thập giá Đức Kitô, Đấng đã là của lễ đền tội cho chúng ta (x. 1Ga 2,2).
7.
Bước theo Đức Kitô như vậy đã khởi đi từ đời sống nội tâm dạt dào yêu thương và bình an. Tuy nhiên, phải nói thực là những ngày đầu của tháng Năm năm 1975 đối với tôi là một thời gian phải lo âu. Tôi thấy từng đoàn người từ tỉnh trốn về vùng quê. Tôi thấy vô số người từ đất liền chạy ra biển để vượt biên. Lo âu của tôi là rất lớn. Tôi cảm thấy mình quá bé nhỏ. Vâng lời Đức Mẹ, tôi quan tâm nhiều hơn đến đời sống nội tâm, theo gương Đức Mẹ.
Đời sống nội tâm của tôi lúc ấy được tăng cường một cách quyết liệt nhờ Phúc Âm và kinh Mân côi.
Qua Phúc Âm và kinh Mân Côi, tôi hiểu đời sống nội tâm phải rất mạnh về sự dứt lìa khỏi bất cứ những gì cản trở cho sự nên giống Đức Kitô. Tình hình lúc đó giúp tôi dứt lìa một cách thuận lợi. Tôi dứt lìa tất cả, chỉ tìm Chúa mà thôi.
8.
Thêm vào đó, đời sống nội tâm của tôi cũng được hỗ trợ bởi Công đồng Vatican II.
Qua Hiến chế “Vui mừng và Hy vọng”, Công đồng dạy tôi bước theo Đức Kitô là phải phục vụ con người toàn thể, cả xác cả hồn, chứ không phải chỉ phần hồn mà thôi.
Một đặc điểm trong phục vụ này là Hội Thánh không phải chỉ cho đi, mang tới, mà còn phải biết tiếp đón, nhận lấy những gì tốt, mà thế gian có do Chúa ban cho. Hội Thánh nên nhấn mạnh đến những gì có thể liên kết nhân loại hơn là những gì gây chia rẽ nhân loại.
9.
Một đời sống nội tâm như thế là một mở ra. Nó có một cái nhìn mới. Nhìn mọi người với đôi mắt của Đức Kitô, Đấng “hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29), Đấng đến “không để kết án, nhưng để cứu độ” (Mt 9,13). Một đời sống nội tâm như thế đã giúp tôi phục vụ Quê Hương Việt Nam với niềm vui và hy vọng.
10.
Hôm nay, nhìn lại chặng đường 39 năm sau biến cố lịch sử 30 tháng 4 năm 1975, tôi vui mừng nhận thấy sự bước theo Đức Kitô theo gương Đức Mẹ đang đem lại cho tôi hạnh phúc được thuộc về Chúa và đang đi về với Chúa, trên con đường yêu thương phục vụ.
Hạnh phúc này đang làm cho tôi trở nên bé nhỏ.
Bé nhỏ, vì nhận thấy Thiên Chúa giàu lòng thương xót đã làm bao nhiêu việc lạ lùng quá sức hiểu biết của tôi. Người đã đổi sự dữ thành sự lành. Người đã làm cho tôi tìm được sự lành ngay trong sự dữ.
Tôi cũng cảm thấy mình chẳng đáng gì, so với bao người tốt đã góp phần vào ơn Chúa trong chặng đường lịch sử vừa qua.
Tôi càng nhận thấy mình bé nhỏ, vì nhận thức mình đã có nhiều yếu đuối, nhưng đứng vững được là nhờ Hội Thánh của Người.
11.
Hôm nay, nhìn về tháng Năm 39 năm về trước, tôi thấy hạnh phúc tôi hưởng hôm nay phải rất tỉnh thức, bởi vì hoà bình không phải chỉ là không có chiến tranh, mà còn phải xây dựng trên đạo đức. Thế mà đạo đức xem ra đang xuống dốc. Nơi nhiều môn đệ Đức Kitô tại Việt Nam hôm nay, đời sống nội tâm, bước theo Đức Kitô, sống dứt lìa không còn là giá trị ưu tiên.
Lịch sử cho thấy, cái tốt truyền thống trong đạo ngoài đời có thể biến chất nếu không tỉnh thức phấn đấu chống các phong trào xấu do các tà thần khơi dậy trong các tâm hồn.
Vì thế, hôm nay nhìn về tháng Năm năm 1975, tôi thấy một bài học quý giá cho rất nhiều người đã được viết ra bằng bao hy sinh. Nhưng mới chỉ sau 39 năm, bài học đó xem ra đã bắt đầu nhường chỗ cho những hào hứng mới về hưởng thụ, tục hoá, tìm hư danh do trào lưu vật chất chủ động.
Tôi thực sự lo ngại. Xin hãy tỉnh thức.
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ thương cầu cho chúng con là kẻ tội lỗi.


Long Xuyên, ngày 02 tháng 5 năm 2014.
ĐGM. JB. Bùi Tuần

Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

TIẾNG GỌI PHỤC SINH



1.
Trong những ngày này, tôi nghĩ nhiều tới Tuần Thánh. Tôi nghĩ đến những gì đã xảy ra xưa trong ba ngày Tuần Thánh, tôi đưa tâm hồn tôi về với Chúa Giêsu, để sống bên Người một cách trọn vẹn.
Tôi ở bên Chúa Giêsu trong bữa tiệc ly, đi vào vườn Cây Dầu, rồi lên đường vác thánh giá, đến Núi Sọ, và tới mồ táng xác Chúa. Tôi được nghe lời Người, được thấy những gì Người làm, được cảm nhận những nỗi đau của Người, được chia sẻ tình yêu bao la của Người.
2.
Để không rơi vào chủ quan, tôi dựa vào Lời Chúa trong Kinh Thánh, để biết rõ mục đích những gì đã xảy ra trong Tuần Thánh xưa. Mục đích đó là: “Nhờ Chúa Giêsu đổ máu mình ra, chúng ta được ơn cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi” (Cl 1,13-14).
3.
Mục đích đó cũng đã được Phụng Vụ Thánh Lễ nói lên với nhiều hình ảnh khác nhau, dễ hiểu. Như: “Lạy Thiên Chúa toàn năng, loài người chúng con quá yếu đuối, đã gục ngã thảm thương, nhưng vì Đức Kitô Con Chúa đã chịu khổ hình, xin cho chúng con được chỗi dậy và tìm lại được sự sống” (Lời nguyện nhập lễ, thứ hai Tuần Thánh).
“Lạy Chúa, Chúa đã muốn cho Con Một Chúa chịu khổ hình thập giá, để giải thoát chúng con khỏi quyền lực ác thần” (Lời nguyện nhập lễ, thứ tư Tuần Thánh).
Những câu: Để chúng ta được chỗi dậy, tìm lại được sự sống, cũng như để giải thoát chúng ta khỏi quyền lực ác thần, đó là những mục đích, mà Chúa Giêsu nhắm tới, khi tình nguyện chịu khổ hình thập giá.
4.
Chúa ban ơn cho tôi được hiểu những sự thực đó, không phải chỉ trên lý thuyết, mà trong thực tế của bản thân.
Nhờ ơn Chúa, tôi thấy thực tế của bản thân tôi là rất tồi tệ.
Tôi là con người có rất nhiều tội lỗi, rất cần được tha thứ, rất cần được cứu chuộc.
Tôi là con người quá yếu đuối, đã nhiều lần gục ngã, cần được chỗi dậy.
Tôi là con người bao lần như đã chết, cần tìm lại được sự sống.
Tôi là con người bao lần phải nhục nhã dưới quyền ma quỷ, cần được giải thoát.
5.
Thực tế của bản thân tôi là như thế. Nhưng Chúa Giêsu đã cứu tôi. Người cứu tôi và nhân loại bằng sự hạ mình xuống chịu khổ hình. Mỗi lần nhớ đến sự Chúa Giêsu chịu khổ hình thập giá, để cứu nhân loại, tôi lại được Chúa lưu ý đặc biệt đến sự Chúa hạ mình xuống, như lời Hội Thánh xưng tụng: “Lạy Chúa, nhờ Con Chúa hạ mình xuống, Chúa đã nâng loài người sa ngã lên” (Lời nguyện nhập lễ, thứ hai sau CN IV Phục Sinh).
Hạ mình xuống, đó là tâm tình đặc điểm của Chúa Cứu Thế đã được thánh Phaolô ca tụng trong thư gởi tín hữu Philipphê.
“Đức Giêsu Kitô,
Vốn dĩ là Thiên Chúa,
Mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
Nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
Mặc lấy thân nô lệ,
Trở nên giống phàm nhân,
Sống như người trần thế
Người lại còn hạ mình
Vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập giá” (Pl 2,6-8).
6.
Với ơn Chúa, tôi cảm nhận được việc Chúa Giêsu hạ mình xuống chịu khổ nạn thập giá để cứu tôi và nhân loại là một ơn vô cùng cao quý.
Nhưng ơn trọng đại ấy không cưỡng ép tôi, không áp đặt tôi, không bắt buộc tôi phải nhận. Nghĩa là để được hưởng ơn Chúa cứu chuộc, tôi phải biết đón nhận ơn Chúa, tôi phải cộng tác với ơn Chúa.
7.
Đón nhận và cộng tác thế nào, tôi xin phép được chia sẻ một sự kiện riêng tư Chúa đã để trải qua đời tôi, để dạy tôi về sự phải đón nhận và cộng tác vào ơn cứu chuộc.
Đã rất lâu rồi, tôi bị đau nặng. Chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng đã khuyên tôi nên đi trị bệnh, càng sớm càng tốt. Caritas Đức sẵn sàng lo cho tôi. Tôi được nhập viện ở Đức, coi như cần phải cấp cứu. Tôi được mổ chính ngày thứ sáu Tuần Thánh.
Khi tỉnh thuốc mê, tôi cảm thấy đau. Tôi kêu. Một chị bạn người Đức cầm tay tôi và nói nhẹ vào tai tôi: Cha ơi, hôm nay là thứ sáu Tuần Thánh. Chúa Giêsu chịu đóng đinh đang ở bên cha.
Nghe vậy, tôi thinh lặng. Tôi như thấy Chúa Giêsu đang yêu thương chịu tử nạn như một của lễ, để cứu chuộc tôi. Tôi tự nhiên dâng tình yêu và những đau đón của tôi lên Chúa, như để góp phần nhỏ bé vào của lễ đó.
8.
Vài phút sau, một chị nữ tu người Đức mang Mình Thánh đến. Tôi nằm đau đớn, rước Mình Thánh từ tay chị. Chị nói với tôi: Cha ơi, trong bệnh viện này có từng trăm bệnh nhân đang cần được Chúa cứu. Xin cha cầu cho họ. Nghe lời chị, tôi cầu nguyện cho họ, tôi cũng dâng tình yêu và những đau đớn của tôi lên Chúa, để cộng tác phần nào vào việc Chúa cứu họ.
9.
Những giây phút ấy, tôi chợt thấy mình đang xa Quê Hương Việt Nam, không một người Việt nào bên cạnh. Nhưng tôi lại được ở trong Hội Thánh Chúa. Tôi coi hai chị phụ nữ đó chính là những người, mà Hội Thánh Chúa sai đến. Họ an ủi tôi. Họ mang đến cho tôi những lời gọi tha thiết của Chúa. Nhờ đó, tôi luôn nhớ mình hãy là của lễ hy sinh  bé nhỏ, để đón nhận và để cộng tác vào ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu. Cho đến hôm nay, tôi vẫn vui mừng được là như thế mà thôi. Của lễ hy sinh là tình yêu và đau khổ nhọc nhằn. Bé nhỏ là được chôn vùi trong cầu nguyện.
10.
Hôm nay, niềm vui của tôi càng được tăng lên gấp bội, khi tôi nhận thấy xung quanh tôi nhiều người đang là của lễ hy sinh. Họ cầu nguyện phục vụ âm thầm lặng lẽ. Họ tìm Chúa ở giữa những người đau khổ, nghèo túng, bị loại trừ. Họ mang niềm tin và hy vọng của Đức Mẹ Maria, khi Mẹ đứng dưới chân thánh giá Chúa Giêsu. Họ tha thiết cứu các linh hồn, nhất là cứu linh hồn mình.
11.
Tôi tin họ. Họ là những người đáng tin. Tôi cảm nhận được một sức mạnh thiêng liêng phát ra từ họ. Nhờ họ, tôi nghe được lời gọi của Chúa Phục Sinh. Chúa Phục Sinh gọi tôi: “Để gặp Chúa Phục Sinh, hãy đi theo con đường hẹp, khởi đi từ sự sám hối”.
12.
Đột nhiên, tôi nhận ra tôi đang sống giữa một thế giới trong cơn khủng hoảng mất niềm tin ở những con người. Thực là hạnh phúc cho tôi, khi tôi gặp được những con người đáng tin như họ.
Lạy Chúa, con xin hết lòng cảm tạ Chúa đang cho con thấy sự cứu linh hồn mình và các linh hồn là việc rất khẩn cấp, cần được thực hiện bằng chính con đường cầu nguyện, yêu thương khiêm tốn, khó nghèo, hy sinh mà Chúa Cứu Thế đã đi. Con yếu đuối lắm. Xin Chúa thương giúp con thực thi ý Chúa.

Long Xuyên, ngày 11 tháng 4 năm 2014.
ĐGM. Gioan B. Bùi Tuần

Thứ Năm, 3 tháng 4, 2014

MỘT CHUYỆN RIÊNG TƯ NÊN ĐƯỢC CHIA SẺ

MỘT CHUYỆN RIÊNG TƯ NÊN ĐƯỢC CHIA SẺ

1.
Tuần lễ trước đây, tôi đau nặng. Tự mình không thể đứng dậy được, tự mình không thể bước đi được. Trong cơn đau, tôi thở than với Chúa Giêsu: “Chúa ơi, Chúa đã hứa với các môn đệ Chúa: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). “Hôm nay, lúc này, Chúa có ở cùng con không? Con mệt lắm. Xin Chúa thương con”.
2.
Tối thứ sáu tuần đó (28.3.2014) tôi đi ngủ như mọi tối. Trong giấc ngủ, tôi chiêm bao thấy Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đến với tôi. Ngài đi một mình. Tôi đang dâng lễ riêng, thì thấy Ngài đứng đồng tế bên tôi. Tôi cảm động và vui sướng. Bừng tỉnh, tôi cảm thấy có một sự gì lạ đang xảy ra cho tôi. Tôi bớt đau nhiều. Tôi cảm tạ Chúa, rồi tiếp tục ngủ.
Lạ lùng. Tôi lại chiêm bao thấy Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đến với tôi. Tôi đi đâu, Ngài cũng đi theo. Qua cộng đoàn này tới cộng đoàn kia, Ngài và tôi đều rất vui. Không biết cơn chiêm bao đã kéo dài bao lâu, nhưng khi tôi tỉnh giấc, xem đồng hồ, thì thấy đêm vừa bắt đầu sang ngày thứ bảy (29.3.2014). Tôi hạnh phúc vô chừng.
3.
Tôi thấy những gì tôi vừa chiêm bao là quá bất ngờ. Tôi chợt hiểu, với chiêm bao đó Chúa trả lời tôi: “Chúa ở cùng con mọi ngày cho đến tận thế là như thế đó”.
Tôi tin Chúa thực sự ở với tôi, nhất là khi tôi được đưa vào con đường thương khó, để vác thánh giá theo Chúa Giêsu lên Núi Sọ.
Trong thử thách, tôi cảm thấy cô đơn đau khổ. Chúa vẫn ở bên tôi một cách thiêng liêng, kín đáo. Nhưng nhiều khi, Chúa dùng những người của Hội Thánh bằng xương bằng thịt, để họ ủi an nâng đỡ và đồng hành với tôi. Người của Hội Thánh nói đây là Đức Giáo Hoàng hoặc một thành phần nào đó của Hội Thánh. Họ đã có kinh nghiệm phần nào về Chúa Cứu Thế và về con đường thánh giá của Người. Họ xác tín: Được thông phần vào thánh giá Chúa Giêsu để cứu các linh hồn là một vinh dự. Họ chia sẻ xác tín đó cho tôi. Tôi cảm ơn họ.
4.
Những ý tưởng trên đây tự nhiên sáng rực lên trong tôi. Đột nhiên tôi nhận ra rất nhiều người của Hội Thánh gần xa đang âm thầm được Chúa dùng để nâng đỡ tôi. Họ chính là dấu chỉ hữu hình của sự Chúa ở cùng tôi trên con đường thánh giá.
Những dấu chỉ ấy, mà tôi gọi là bằng xương bằng thịt, đều mang trong mình những đặc điểm của Chúa Cứu Thế, như hiền lành, khiêm nhường, yêu thương, tế nhị, như những đức tính của Đức Gioan Phaolô II mà tôi không bao giờ quên, bởi vì tôi đã được hạnh phúc gặp Ngài nhiều lần riêng tư.
5.
Tôi nhìn chiếc đồng hồ đeo tay toàn màu trắng, mà chính tay Đức Gioan Phaolô II đã tặng tôi. Khi trao tặng, Ngài cầu chúc: Hãy can đảm. Tôi hiểu ý Ngài là tôi hãy can đảm trở thành của lễ hy sinh dâng cho Chúa từng phút từng giây.
Hãy can đảm! Chiếc đồng hồ này còn chạy tốt, nó cũng như vẫn nhắc lại lời Đức Thánh Cha: Hãy can đảm. Tôi biết mình rất yếu đuối, không đủ can đảm. Nên tôi xin Đức Thánh Cha nay đang ở trên trời, hãy thương giúp tôi, thỉnh thoảng xin đến khích lệ tôi. Tôi cảm thấy Ngài rất gần gũi tôi.
6.
Cứ như thế, những giờ đầu của buổi sáng hôm đó, thứ bảy (29.3.2014), là một thời gian đầy an ủi đối với tôi. Tôi được thêm sức sống. Ngay lúc ấy, tôi được một nguồn tin đáng tin cậy cho biết: Toà Thánh sắp bổ nhiệm một linh mục giáo phận Long Xuyên làm Giám mục. Tôi cầu nguyện. Vì tôi coi chức Giám mục là một gánh rất nặng.
7.
Tôi được gặp vị linh mục đó. Cha thực sự tỏ ra bối rối và sợ hãi. Tôi trấn an Ngài: Hãy can đảm. Chúa sẽ ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế.
Tôi chia sẻ với Ngài đôi chút kinh nghiệm của tôi. Can đảm không phải để làm những việc lớn, nhưng là để làm những việc thực sự do Chúa sai làm.
Trong đời mục tử của tôi, tôi sợ nhất đoạn sau đây trong Phúc Âm thánh Matthêu: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Thầy mà nói tiên tri, nhân danh Thầy mà trừ quỷ, nhân danh Thầy mà làm nhiều phép lạ đó sao. Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi, xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác” (Mt 7,21-23).
8.
Suốt thời gian thực thi nhiệm vụ giám mục, tôi hay trình bày tất cả mọi sự tôi làm lên Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Tôi chỉ làm những gì được Ngài uỷ quyền chấp thuận và sai đi. Vì thế Ngài rất thương tôi. Và tôi được bình an.
9.
Tôi thấy hiện tình Hội Thánh tại Việt Nam rất phức tạp. Nếu không tỉnh táo hiệp thông chặt chẽ với Đức Giáo Hoàng, và lắng nghe Chúa Thánh Thần, thì nhiều tín hữu, kể cả mục tử, sẽ có thể cứ nhân danh Chúa mà làm những công trình lớn lao, nhưng thực sự không phải là ý Chúa.
Một thí dụ cụ thể. Lễ tấn phong linh mục nhất là tấn phong Giám mục nên được tổ chức thế nào cho hợp ý Chúa. Hiện nay tổ chức long trọng, linh đình, hoành tráng là một chọn lựa dễ coi như hợp lý. Nhưng có những mức độ và tính cách long trọng, linh đình, hoành tráng coi như hợp lý, nhưng có thể lại không hợp thánh ý Chúa. Biết như thế, nhưng nếu không đủ can đảm làm theo ý Chúa, cứ tìm cách làm theo ý riêng dưới chiêu bài nhân danh Chúa, thì tôi sợ, cứ thế từng bước, nhiều người trong Hội Thánh tại Việt Nam sẽ dần dần thiết lập một Hội Thánh xa lạ với thánh ý Chúa. Rồi cứ ảo tưởng đó là một Hội Thánh sốt sắng, nhiệt tình.
10.
Hơn bao giờ hết, các mục tử của Chúa tại Việt Nam hôm nay phải thực sự can đảm bước theo Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã cứu nhân loại bằng những lời cầu nguyện đau đớn và cuộc tử nạn đớn đau. Chúng ta được kêu gọi trở thành những người cộng tác với Chúa Giêsu trong chương trình cứu độ của Chúa, thì chúng ta không nên lựa chọn con đường khác con đường mà Chúa đã chọn. Đó mới là can đảm đích thực. Tôi có cảm tưởng là gia đình giáo phận Long Xuyên chúng tôi luôn đi theo sự can đảm đó.
11.
Đột nhiên, tôi nhớ có lần tôi đã nói nhỏ với Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II rằng: Con xin bằng lòng chịu mọi sự đau đớn con gặp phải, để dâng lên Chúa, với mục đích cầu nguyện cho Đức Thánh Cha. Lúc này, tôi cũng muốn nói tương tự như vậy với các Đức giám mục thân yêu của tôi tại Quê Hương Việt Nam hôm nay. Các ngài đang là sự hiện diện làm chứng cho sự thánh thiện của Chúa Giêsu. Làm chứng như thế không do sự chúng ta làm gì, cho bằng sự chúng ta là gì. Chúng ta là những người mang Chúa Giêsu trong mình.

Long Xuyên, ngày 31 tháng 03 năm 2014

 GM. GB. Bùi Tuần

Thứ Năm, 27 tháng 3, 2014

TÂM SỰ CỦA MỘT NGƯỜI CHA GIÀ ĐAU YẾU




1.
Tôi mới đọc lại một bài của Đức Hồng Y Bergolio, nay là Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Bài này được Ngài giảng trong thánh lễ Dâng Chúa Giêsu trong đền thờ, ngày 02.02.2008.
Nội dung bài giảng là về “những người già”.
Vì là một người già đau yếu, tôi đọc mà thấy lòng mình thấm thía nỗi đau. Xin được chia sẻ nỗi niềm ấy của tôi trong tâm sự này.
2.
Ngay trong đầu bài giảng, Đức Hồng Y đã không ngại nói lên một cảnh đau buồn đang xảy ra tại nhiều nơi ở Nam Mỹ. Cảnh đau buồn đó là cách cư xử đối với những người già.
Theo Ngài nhận xét về chính sách dành cho người già, thì cả đời cả đạo đều có những tuyên bố rất hay. Nhưng thực tế lại khác.
Người già bị coi như kẻ bị loại trừ.
Người già bị khinh như kẻ bị đẩy ra ngoài lề xã hội.
Người già bị đối xử như kẻ bị từ bỏ, bị để trong những nhà hưu như kho dành cho các vật phế thải.
Người già bị chế giễu và bị bỏ quên.
3.
Những hình ảnh trên đây tạo nên trong tôi một bầu trời u ám. Tôi cảm thấy xót xa vô chừng.
Tôi thầm nghĩ: Nếu phần đông đối xử tệ như thế đối với những người già, thì chắc là họ có cơ sở. Nếu chính tôi cũng bị đối xử như thế, thì hẳn là vì tôi xứng đáng bị như thế. Bởi vì chính tôi cũng thấy mình đang là người thuộc loại không sản xuất được gì, mà lại còn gây phiền hà cho nhiều người khác.
4.
Thực vậy, tôi cảm thấy mình đang là gánh nặng cho cộng đoàn. Bởi vì đời sống của tôi hiện giờ phải lệ thuộc rất nhiều vào người khác, đi đứng, di chuyển đều phải nhờ người khác.
5.
Tôi cảm thấy mình đang là kẻ dư thừa, gây phiền toái cho cộng đoàn. Bởi vì tôi bị kể như không còn khả năng phục vụ, đã thế lại giữ cho mình những phương tiện sống đáng lẽ nên dành cho những người đang phục vụ.
6.
Tôi cảm thấy mình đang là kẻ gây chướng tai gai mắt. Bởi vì tôi có những lời nói, việc làm, thái độ vụng về mà người ta không muốn bao dung chấp nhận.
7.
Tôi cảm thấy mình đang là kẻ phạm đến quyền lợi của người khác. Bởi vì tôi có những suy nghĩ và những lời nói nào đó, mà người ta cho là pha mình vào chuyện của người khác.
8.
Tôi cảm thấy mình đang là kẻ bị kết án, không xứng đáng ở lại chốn này. Bởi vì tôi bị coi như kẻ làm gương xấu, gây hại cho ích chung.
9.
Những cảm thấy trên đây đang làm tôi đau đớn và sợ hãi. Tôi muốn tìm người, để tâm sự. Nhưng tôi sợ lại bị khổ thêm, do người ta khinh chê, xa tránh. Mất miền tin vào người khác, co mình lại, đó là triệu chứng của trầm cảm.
10.
Trầm cảm có lúc gây nên căng thẳng. Chỉ một chút thôi trong lời nói, trong thái độ, của ai đó, tuy vô hình, nhưng tỏ ra sự dửng dung, sự khinh miệt, đều có thể làm cho tâm hồn đang đau lại đau thêm.
11.
Những lúc đó, tôi không phải là hiểu, mà là cảm nhận được một cách sâu sắc tình trạng, mà Chúa Giêsu đã trải qua xưa trong vườn Cây Dầu. Người cảm thấy rất mực cô đơn, rất mực sợ hãi, rất mực khổ đau. Tôi cũng như Người, lúc đó gục đầu xuống đất, mà khẩn cầu: “Lạy Cha, nếu có thể, xin cho con khỏi uống chén đắng này. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha mà thôi” (Lc 22,42).
12.
Và tôi cũng cảm nhận thấy rất cần được ủi an nâng đỡ. Tôi thấy nhu cầu ấy cũng đã có trong lời Chúa Giêsu trách các môn đệ: “Các con không thức nổi một giờ ở bên Thầy sao?” (Mc 14,37).
13.
Ai đã trải qua những trường hợp như thế, mới thấy những trường hợp như thế là rất khủng khiếp. Do vậy, cần phải rất nhạy bén và tế nhị đối với những người trong cơn khủng khiếp như thế, nhất là khi họ là những người già cả đau yếu, không còn sức khoẻ thân xác và tinh thần để vượt qua.
Tôi đã nhiều lần rơi vào những trường hợp khủng khiếp đó.
14.
Cũng may là trong tôi, Chúa vẫn hiện diện, Người thắp lên trong tôi một ngọn lửa nhỏ. Ngọn lửa nhỏ này là niềm tin yêu mãnh liệt. Nhờ ngọn lửa thiêng này, tôi biến đau khổ thành cơ hội đến với Chúa và đến với con người, một cách âm thầm nhưng đầy tin tưởng.
15.
Trước hết, tôi coi bản thân tôi đang đau đớn là một của lễ hy sinh. Tôi khiêm tốn dâng lên Chúa của lễ hy sinh đó, hợp với của lễ hy sinh Chúa Cứu Thế đã dâng xưa trên thánh giá.
16.
Với của lễ hy sinh đó, tôi chúc phúc lành cho những người thân yêu của tôi. Như xưa ông già Simêon đã chúc lành cho Đức Mẹ và Thánh Giuse, khi hai Đấng dâng Chúa Hài Đồng trong đền thờ (x. Lc 2,33-35).
17.
Rồi, cũng với của lễ hy sinh đó, tôi chuyển giao kinh nghiệm của tôi cho cộng đoàn và những thế hệ đi sau. Như xưa bà già Anna “đã nói về Hài Nhi Giêsu cho hết những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giêrusalem” (Lc 2,38).
18.
Những gì tôi chia sẻ trong tâm sự này đều rát chân thành. Cũng với tất cả tấm long chân thành, tôi thú nhận tôi rất yếu đuối, hèn hạ, tội lỗi, rất cần được Chúa xót thương và cũng rất cần được cộng đoàn cảm thông.
19.
Để kết, tôi xin mượn ý của Đức Thánh Cha Phanxicô về người già:
- Nhu cầu được có người ở bên,
- Nhu cầu gặp được một cái nhìn yêu thương có sức làm êm dịu nỗi lo âu sợ hãi...
- Nhu cầu được cảm thấy mình có ích cho người khác.
- Nhu cầu làm nhẹ nỗi đau.
Đó là những gì anh chị em nên làm cho những người già cả đau yếu, trong đó có tôi.
Xin cảm tạ Chúa hết lòng.
Xin chào chúc anh chị em được bình an trong Chúa.

ĐGM. GB. Bùi Tuần
Long Xuyên, ngày 12 tháng 3 năm 2014

Ngày giỗ Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp